Pháp âm

[KHAI THỊ]: Thế Nào Là Chánh Trợ Song Tu?


 

Người tu tịnh nghiệp cần nên tìm hiểu thế nào là “Chánh Trợ Song Tu”:

– Chánh công phu là trừ khử vọng niệm, thấu triệt tâm tánh.

– Trợ công phu là công phu giúp hiển lộ tâm tánh, trừ khử những ma chướng phát sanh bởi dụng công.

1. Trước hết nói về Chánh Công Phu. Trong vòng bảy ngày, lúc nào cũng phải giữ lòng cung kính. Một phen bước vào cửa chùa thì cũng như vào gặp Phật. Pháp thân của Như Lai ở khắp mọi nơi, chẳng phải chỉ mình tượng Phật trên đại điện mới xem là Phật, mà thật ra một sắc, một hương không thứ nào chẳng phải là diệu sắc, diệu tâm của Phật. Đối với mỗi hoàn cảnh, nơi chốn như thế đều xem như là Phật thì ngôn hạnh tự nhiên cung kính, chẳng còn lười nhác nữa. Cung kính chính là bí quyết để hướng đến Bồ Đề. Đây là tầng công phu thứ nhất.

– Khi đã ngồi yên rồi thì phải buông xuống vạn duyên, quét sạch mọi vọng niệm tạp sự thường ngày. Sau đấy, mới gon tâm về một chỗ buộc tâm nơi câu hồng danh. Giống như nơi dòng nước chảy xiết phải buộc chặt thuyền bè vào cột thì mới khỏi bị nước cuốn. Đây là tầng công phu thứ hai.

– Kế đó, trong khi trì danh, phải giữ sao cho sáu chữ hồng danh từ tâm tưởng khởi, từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai, ví như ba cái bánh xe xoay vần qua lại, cốt sao tâm tưởng thật trong sáng, rõ ràng, miệng niệm được rõ ràng, tách bạch; tai nghe rõ ràng, rành mạch. Tự niệm, tự nghe như thế, từng chữ dựa chặt vào nhau, trong khi niệm đừng đành mất một câu nào. Đâu là tầng công phu thứ ba.

Thêm nữa, lúc chúng ta niệm Phật, chẳng luận là miệng tụng hay ý trì, hãy nên giữ cho không có tạp âm, chỉ còn mỗi mình tiếng niệm Phật. Do vì A Di Đà Pháp Thân ở khắp mọi nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi. Vì thế lúc niệm Phật, từ nơi ta phát ra âm thanh của tâm, tâm thanh đó hòa nhập vào Phật quang dung thông như thế thì ta chính là Di Đà, Di Đà chính là ta. Đây là tầng công phu thứ tư.

Theo đúng những điều vừa nói ở trên, tinh tấn tu tập từng tầng, khiến cho chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ sống chuyển thành chỗ chín. Đến khi đạt đến tầng thứ tư thì chính là ngày thành tựu Nhất Tâm vậy.

2. Đại sư dạy: Tiếp đến nói về Trợ Công Phu. Chánh Công Phu cố nhiên là thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhưng chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay quen thói phiền não đã sâu, vọng niệm tơi bời; nay muốn dùng một câu Phật hiệu đè nén chúng cho khỏi tạo nghiệp, không còn vọng tưởng, thì tuyệt đối chẳng thể thực hiện được điều đó trong một thời gian ngắn. Vì thế, phải dùng Trợ Hạnh để giúp sức.

Nếu có thể hằng ngày tự cảnh tỉnh, quan sát lỗi ác của chính mình, thành tâm sám hối, mong tiêu nghiệp chướng, thấy người khác làm lành liền tùy hỷ, tán thán để tăng phước đức; tùy hỷ, sám hối như thế đều hồi hướng vãng sanh Tây Phương thì đây chính là Trợ Hạnh thứ nhất.

Tiếp đến là pháp Hân Yểm (ưa thích và nhàm chán). Trong các sanh hoạt thường nhật, chẳng luận là ăn, mặc, đi, đứng, đối với mọi thứ trong cõi Sa Bà đều nhất loạt coi là ô uế mà chán lìa. Đối với các thứ trang nghiêm được diễn tả trong ba Kinh Tịnh Độ đều tưởng là thanh tịnh, sanh lòng ưa thích. Chán lìa thì không tâm tham luyến. Vui mừng, hâm mộ thì tự tăng thêm ý nguyện cầu sanh. Đến khi hân yểm cùng cực thì thân tuy ngụ Sa Bà, nhưng chẳng còn là khách trọ lâu ngày trong cõi Sa Bà nữa; tuy chưa chứng Cực Lạc, nhưng đã sớm là người thường trú chốn Liên Bang. Đây chính là yếu quyết mầu nhiệm của Tịnh Tông, chẳng thể nói là giống như những lời lẽ “bất hân bất yểm” của các tông khác. Đây chính là Trợ Hạnh thứ hai.

Thêm nữa, về pháp phương tiện để chế ngự mê Hoặc, nên biết rằng niệm Phật chẳng được Nhất Tâm là do vọng niệm làm loạn. Nhưng vọng niệm chính là Hoặc, mà cũng chính là Ma. Vì thế muốn đoạn ngay được mê Hoặc thật chẳng dễ dàng. Nay có cách tạm chế ngự được mê Hoặc. Cổ đức có nói: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Nếu cứ hễ ý niệm khởi liền có thể nhận biết, biết rồi liền dùng Phật hiệu chế ngự nó. Ma đến, Phật chế ngự như thế, ví như dùng đá đè cỏ. Đè lâu ngày thì mê Hoặc chẳng thể tự khởi, cũng được “phương tiện Nhất Tâm”, đợi đến khi sanh về Tây Phương rồi sẽ lại đoạn trừ mê Hoặc. Đây chính là pháp đặc biệt của Tịnh Độ, chẳng thể dùng lý lẽ của các tông khác để cật vấn được. Đây chính là Trợ Hạnh thứ ba.

Hy vọng mọi người sau bảy ngày tu tập niệm Phật, không kể đến là đang ở trong đạo tràng hay đang trên đường về nhà đều tu như thế. Dưới đây là một bài kệ để kết luận:

Tịnh Độ khó tin nhưng dễ hành,

Toàn do hai lực, chánh và trợ,

Phải đắc Nhất Tâm mới hữu hiệu,

Phương tiện chế Hoặc liền cảm thông.

Sau cùng xin mọi người buông xuống vạn duyên, thẳng thét mà niệm một câu A Di Đà Phật!

 

Nam Mô A Di Đà Phật!

Tuyết Hư Đại Sư

Đại Sư Tuyết Hư Dạy Niệm Phật


1. Tầng công phu thứ nhất: Cung kính tượng Phật như Phật thiệt.

2. Tầng công phu thứ hai: Buông xuống vạn duyên.

3. Tầng công phu thứ ba: Giữ danh hiệu từ tâm khởi, từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai, ví như ba cái bánh xe xoay vần qua lại, cốt sao tâm tưởng thật trong sáng, rõ ràng; miệng niệm được rõ ràng, tách bạch; tai nghe rõ ràng, rành mạch.

4. Tầng công phu thứ tư: Giữ cho không có tạp âm, chỉ còn mỗi mình tiếng niệm A Di Đà Phật, Pháp Thân của A Di Đà Phật ở khắp mọi nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi.

Âm thanh phát xuất từ tâm khởi, (âm thanh của tâm [tâm thanh])

Âm thanh đó hòa nhập vào Phật Quang,

Phật Quang lại nhập vào âm thanh.

Âm thanh và Phật Quang dung thông.

Như thế thì, ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là ta. Đây là tiến trình thành tựu nhất tâm.