Pháp âm

[KHAI THỊ]: Bậc Chân Tu Cảm Ứng Đạo Giao.


 

Năm 1951 Ngài từ Thái Lan trở về Hương Cảng, và được tín đồ Phật giáo nơi đây rất sùng kính nên thỉnh Ngài đến Đàn Thông Thiện giảng Kinh Địa Tạng. Ngài đã giảng thuyết suốt hơn bốn mươi ngày. Mỗi ngày đều không dưới một trăm người đến tham dự. Thượng tuần tháng chạp, khi khóa giảng kinh Địa Tạng kết thúc, có nhiều vị cư sĩ bàn thảo với nhau về việc tìm mua một khoảng đất cúng dường để Ngài cất Tịnh xá.

Chẳng bao lâu họ đã mua được một mảnh đất hoang trên vùng đất cao, thuộc làng Mã Sơn, Tây Loan Hà, Hương Cảng. Tuy vùng đồi núi khá cao đường xá lại quá xa xôi. Nhưng mỗi tấc đất ở Hương Cảng như một tấc vàng, vì vậy việc tìm được mảnh đất này không phải là chuyện dễ. Duy chỉ có một việc không may là trên triền núi này lại không có mạch nước nào, nên việc dùng nước ở đây là cả một vấn đề nan giải.

Dân cư vùng phụ cận phải dùng đường mòn xuống núi, rồi tiếp đi trên đường lộ đến khu phố chợ để lấy nước, nguồn nước này do thành phố Hương Cảng tiếp tế. Lấy nước xong họ phải gánh trở lên núi và phải leo lên cả ba trăm bậc tam cấp mới đến nơi. Nhiều người dùng nước mà chỉ có một nơi cung cấp, nên họ phải sắp thành những hàng rất dài để chờ đến phiên. Thảo nào dân chúng ở đó khi nghe bàn về vấn đề “nước” là họ sợ thất sắc.

Lúc khởi công xây cất Chùa, các vị cư sĩ đã trình lên Ngài vấn đề hiếm nước nhưng Ngài chẳng chút màng lo mà chỉ để tâm vào việc kiến dựng tu viện. Ngài đã không loan tin quảng cáo xin cúng dường, không phan duyên với các cư sĩ giàu có, và cũng không đến từng nhà để quyên góp; vì làm như vậy coi như lợi dụng sự hưng thịnh của dân Hương Cảng là đi ngược lại với những Tông chỉ mà Ngài đã từng dạy cho các đệ tử:

Dù chết vì rét, không phan duyên

Dù chết vì đói, không xin xỏ

Dù chết vì nghèo, không cầu cạnh

Tùy duyên nhưng không đổi lòng

Không đổi lòng nhưng vẫn tùy duyên

Ba tông chỉ ấy, ta phải giữ gìn

Xả thân vì Phật sự

Tạo mạng vì bổn sự

Chánh mạng vì Tăng sự

Gặp sự, rõ lý

Rõ lý, hiển sự

Lưu hành mạch phái Tổ sư đã truyền.

Xây dựng Tây Lạc Viên

Tất cả công trình xây cất đều do lòng tự nguyện phát tâm của tín chúng, chủ yếu là nhờ đạo lực quyết tâm dõng mãnh của Ngài, luôn muốn cho Đạo-tràng này sớm được đơm hoa kết trái. Ngài đã trang trí khung viên Chùa với những cây thông non nho nhỏ, những hàng đu đủ sai trái và những rặng trúc xinh xinh. Một đạo tràng thanh tịnh đã được hoàn thành vào cuối năm 1951, Ngài đặt tên là “Tây Lạc Viên”. Năm sau đó, lễ khánh thành Chùa Tây Lạc Viên cùng Lễ An vị Tây Phương Tam Thánh đã được tổ chức đúng vào ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4.

Sau khi dọn về Chùa mới, Ngài phát giác ra một tảng đá có khe nứt ở phía sau Chùa. Ngài bèn cắm vào đó một nhành dương rồi cầu nguyện chư Phật, Bồ Tát gia hộ ban cho một mạch nước nơi khe đá này. Thế rồi mỗi ngày ở bên tảng đá bể, Ngài chân thành khẩn thiết trì chú Đại-bi. Chẳng bao lâu mặt đất nơi ấy trở nên ẩm ướt và sau đó một mạch nước từ khe nứt của tảng đá phun ra, nước chảy ra vừa ngọt vừa sạch thành ao nước đầy. Ngài liền nhờ người xây hồ chứa nước ngay nơi đó. Từ đó nạn khan hiếm nước đã được chư Phật, Bồ Tát từ bi giải quyết.

Khi nghe nói ở Chùa có một hồ nước nhiệm mầu, mọi người trong vùng thảy đều kinh ngạc. Họ đã không tưởng tượng ra được là làm sao mà nước lại có thể chảy ra từ trong một tảng đá khô cằn tại một hòn núi hoang dã này? Họ vốn không tin Phật pháp, nhưng khi thấy rõ sự việc này, họ mới bắt đầu thâm tín ngôi Tam Bảo.

Vào dịp Lễ Quán Thế Âm thành đạo ngày 19 tháng 6 năm 1959, Ngài tổ chức Pháp hội trong bảy ngày tại chùa Tây Lạc Viên, có đến vài trăm người đến tham gia. Khi ấy trời hè nóng bức, chánh phủ Hương Cảng ra lệnh tiết kiệm việc dùng nước. Mỗi ngày chỉ mở nước công cộng ba giờ nên nhân dân Hương Cảng đều than van khổ. Vậy mà hồ nước tại Chùa Tây Lạc Viên vẫn đầy tràn với mạch nước chảy ra không dứt, đủ sức cung cấp nước cho cả trăm người dùng. Đây là một kỳ tích thật không thể nghĩ bàn.

VỊ A LA HÁN SỐNG

Vào mùa hè sau hai năm kiến lập Chùa Tây Lạc Viên vì muốn tạo duyên tu tập cho đa số Phật tử còn sơ cơ nên Ngài tổ chức đả thất Quán Âm. Sáng sớm ra lúc Lễ Phật ai nấy đều thấy có một cây gỗ giống như thanh kiếm để trước bàn thờ Phật, có người hiếu kỳ hỏi Ngài:

- Sư Phụ! Đó có phải là thanh kiếm gỗ không ạ?

- Không phải kiếm gỗ mà là cây Hương bản dùng để đánh người nào không giữ quy luật và cũng đánh luôn những người ngủ gục biếng nhác ở trong Chùa.

Nghe xong họ nghĩ rằng: Cây hương bản dày như vậy nếu bị đánh chắc là đau lắm, nên thấy ớn vô cùng rồi nghĩ: Không biết ai là người đầu tiên sẽ thử mùi cây hương bản mới này đây? Khóa Quán Âm Thất đã sắp mãn mà cây hương bản vẫn còn nằm yên ở chỗ cũ. Đến ngày thứ bảy khi Chùa làm Lễ Đại hồi hướng, mọi người chợt thấy Ngài cầm cây hương bản đặt ngang tầm mắt rồi đi ra vườn chùa. Ai nấy đều ngơ ngác đưa mắt nhìn theo. Họ thấy có một vị Tăng tuổi trung niên vừa lên núi. Khi thấy Ngài vị này liền quỳ xuống dập đầu sám hối. Mọi người thắc mắc muốn biết nguyên cớ. Sau đó Ngài bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện cho đại chúng như sau. Vị Tăng đó vốn tên là Vô Tấn khi còn ở núi Linh Nghiêm, Tô Châu đã tự xưng là “A La Hán sống” có thần thông, và có thể chữa bệnh cho người. Lúc bấy giờ có rất nhiều người tin tưởng, tôn kính và cúng dường cho ông ta.

Có lần Ngài hỏi ông:

- Ông có tài gì để được coi là một vị A La Hán?

- Tôi chữa bệnh cho người. 

- Ồ! Ông chữa bệnh cho người nhưng ông phải tự trị bệnh cho chính ông mới phải, mà ông đã tự chữa cho ông chưa?

- Tôi đau bệnh gì? 

- Bệnh cầu danh và trong tương lai ông sẽ mang thêm bệnh cầu lợi.

Rồi Ngài cảnh cáo ông:

- Nếu định lực không kiên cố mà đi chữa bệnh cho người, lại thọ người cúng dường thì nhất định sẽ bị đọa lạc!

- Đại sư An Từ, nếu tôi bị đọa lạc xin Ngài ra tay cứu tôi với!

- Tôi sẽ giúp nếu ông bị đọa, nhưng cốt yếu vẫn chính nơi ông, ông phải tự cứu lấy cho ông thôi!

Chẳng bao lâu sau Ngài rời khỏi Trung Hoa đến Hương Cảng và chợt gặp lại ông, nhưng lúc đó ông đã hoàn tục và lập gia đình; Người vợ chính là một vị đại Hộ pháp lâu năm cho ông khi xưa. Cho nên thành quả bao năm tu hành khổ cực của ông, nay bổng như chim kia tung cánh bay xa. Khi gặp lại Ngài, ông ấy cảm thấy thật là hổ thẹn nên lại phát tâm xuất gia. Nhưng chưa đến được nửa năm ông hoàn tục. Sau này vì hoàn cảnh bức bách ông lại cầu Ngài cho phép xuất gia lần thứ hai. Ngài cũng giúp đỡ, khuyên tấn ông ta. Thế nên ngày đó ông Sư này quyết định tìm đến Tây Lạc Viên để cầu sám hối trước Ngài. Một thời gian sau, nghe nói ông ta lại tiếp tục bước trên con đường lầm lạc và cũng lại hoàn tục.

Chúng sanh thoạt điên điên, đảo đảo vừa sanh lên trời liền rơi xuống đất. Nếu ai có thể phát Bồ-đề tâm mãi không thối chuyển thì nhất định sẽ thành Phật đạo, không nghi ngờ chi cả!


Nam Mô A Di Đà Phật!
Theo dharmasite