Hộ niệm

[HỘ NIỆM]: NHỮNG VIỆC MÀ GIA QUYẾN CỦA NGƯỜI SẮP LÂM CHUNG CẦN CHÚ Ý


1.- Cha mẹ  là người có công sinh  thành dưỡng dục vì  thế chúng  ta  phải  luôn  hiếu  thuận,  còn  đối  với  anh,  chị,  em...  là người cùng huyết thống nên phải thương yêu. Như vậy thế nào được  gọi  là  hiếu  thuận,  thương  yêu,  thế  nào  được  xem  là  bất hiếu,  không  hiếu  thuận?  Người  được  gọi  là  hiếu  thuận  là thương  yêu,  trước  tiên  người  đó  đối  với mọi  sự  tình  hết  sức nhẫn  nhịn  hòa  thuận,  trên  kính  dưới  nhường,  biết  chăm  sóc quan tâm, yêu thương giúp đỡ đối với gia quyến... bằng ngược lại thì được xem là đại ngỗ nghịch. Cách tốt nhất là người này biết hướng dẫn gia quyến quy y Tam Bảo, tu tập thiện pháp thì lợi lạc vô cùng.

 2.- Theo Phật pháp đến giờ phút sắp lâm chung là giây phút rất quan  trọng của một kiếp người. Chúng  ta  là gia quyến, đối với  giây  phút  ngắn  ngủi  ấy  nên  đối  xử  hết  sức  hiếu  thuận  và đầy  lòng  thương yêu đối với họ, dù họ có đòi hỏi hay yêu cầu bất kỳ việc gì nhất nhất tùy thuận theo ý tứ của họ, không nên để tâm họ sinh một mảy may phiền não nào.


3.- Khi có người  thân sắp  lâm chung, nếu có hội  trợ niệm nên mời họ đến. Lúc họ đến những người trong gia quyến phải tuyệt  đối  tuân  theo  sự  hướng  dẫn  của  họ,  không  nên  có mảy may  nào  làm  theo  ý  riêng  của mình.  Trường  hợp  những  nơi không  có ban  trợ  niệm  thì gia quyến  có  thể  tự  trợ niệm  cũng được, chỗ cốt yếu là đúng theo Phật pháp. Ðiều quan trọng cần tuân theo là làm ma chay không nên sát sinh mà làm tổn giảm phước  đức  vãng  sinh  của  người  niệm  Phật.  Nếu  muốn  cho người vừa mất được sinh về cõi lành, điều tốt nhất là gia quyến cùng  nhau  ăn  chay  trong  thời  gian  này. Khi  bệnh  họ  trở  nên nặng  thì  chỉ  lo  trợ  niệm,  tuyệt  đối  không  nên  cho  uống  nhân sâm hay thuốc bổ hồi sinh vì làm như vậy rất chướng ngại cho sự vãng sinh.


4.- Phải biết rằng khi một người lâm chung họ sẽ theo một trong bảy con đường sau đây: Ba đường dữ: Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc  sinh. Ba  đường  lành: Trời, Người, A  tu  la  và một  đường Thánh đạo là Tây phương Cực Lạc. Vì vậy gia quyến nên nhận thức  rằng  chúng  ta  trợ  niệm  là  để  cho  người  quá  vãng  được vãng  sinh Cực  Lạc  thọ  hưởng  sự  vui  sướng  hạnh  phúc. Nếu chúng ta khóc lóc, kêu réo, thở than thì làm cho họ rơi vào sáu nẻo luân hồi chịu mãi thống khổ.


5.- Nên biết rằng trong kinh Phật dạy hết sức rõ ràng. Nếu bị đọa lại vào ba đường dữ thì thọ nhận sự khổ đau không cùng tận. Nhất là cõi địa ngục, một ngày một đêm ở đó người ta phải chịu  chết  đi  sống  lại muôn  vạn  lần,  còn  cái  khổ  của  ngạ  quỷ kéo dài cả trăm vạn kiếp, nước uống không thể được nói gì đến việc ăn. Nếu lỡ rơi vào ba đường khổ này, thì chịu khổ ít nhất năm  ngàn  đại  kiếp, mỗi một  đại  kiếp  như  vậy  có  34.384  vạn năm. Thật là một thời gian dài vô cùng tận. Ngược lại thân nhân được về Tây phương thì mỗi ngày đều được nghe Phật A Di Ðà thuyết pháp, được gần Ðại Thế Chí Bồ Tát, Quan Âm Bồ Tát cùng  các  bậc  Thánh  hiền,  lại  được  thấy  các  sắc  tướng  trang nghiêm, được nghe  âm  thanh  thuyết pháp  tuyệt diệu, ngoài  ra còn hưởng được nhiều điều hạnh phúc sung sướng khác.  


6.- Nếu người bình thường đã có tâm nguyện niệm Phật cầu sinh  Tây  phương  điều  này  rất  tốt.  Bằng  ngược  lại  thì  quyến thuộc nên vì người bệnh mà thuyết giảng rõ ràng: “Nếu đọa lạc vào  ba  đường  ác  thì  khổ  não  vô  vàn,  còn  được  sinh  về  Tây phương thì rất an lạc, vĩnh viễn không đọa lạc vào ba đường dữ, phước đức người  sinh ở đó không  thể nghĩ  bàn. Nên khai  thị với họ rằng: “Nếu ông (bà) phát  tâm niệm danh hiệu A Di Ðà Phật,  tin  sâu nguyện  thiết cầu  sinh Tây phương. Ðến giờ phút lâm chung, Ðức Phật tay cầm đài sen hiện ra trước mắt tiếp dẫn vãng sinh về Tây phương, nơi ấy được hưởng an vui không hề còn  sinh  tử  luân  hồi. Nếu  ông  (bà)  quyết  định  niệm  Phật  thì chắc  chắn  được  vãng  sinh. Mỗi  ngày  những  người  thân  nhân nên vì họ mà nhắc lại ba lần như vậy, không nên nói nhanh hay gấp gáp mà  từ  từ hòa diệu chầm chậm khuyên họ. Ðiều quan trọng chúng  ta phải hiểu được  tâm người bệnh, điều hết sức e dè  và  ngần  ngại  là  đừng  để  họ  khởi  tâm  phiền  não. Ðối  với trường hợp người bệnh đã  có  tin  sâu  nguyện  thiết  niệm Phật, hãy để họ nằm yên, không nên hỏi han, hay  than khóc mà chỉ cần khuyên họ nhất tâm niệm Phật, cầu sinh về Tây phương là được.  


7.- Nếu người bệnh có việc quan  trọng cần nói cho quyến thuộc nhưng do bệnh tình không thể. Do đó gia quyến nên hiểu rõ tâm thức của họ đến trước họ hỏi họ cần căn dặn điều gì hay không, trường hợp người bệnh tâm thần quá mê muội thì không nên hỏi han mà làm rối loạn tâm ý của họ, làm họ mất đi chánh niệm (chánh niệm là chỉ cho sự niệm Phật). Còn đối với trường hợp  tâm  thần người bệnh còn minh mẫn nên đến  trước họ mà nói  rằng:  “Hãy  yên  lòng,  tất  cả  các  việc  trong  gia  đình  đã  có người  đảm  đang.  Ông  (bà)  (người  lâm  chung)  hãy  nhất  tâm niệm Phật  cầu  sinh Tây  phương”. Mỗi ngày  nên  vì  họ  nói như vậy,  nếu  tâm  thức  của  họ  ngày  càng  trở  nên  mê  mờ  chỉ  cần chuyên môn trợ niệm cho họ.  


8.- Nếu  có  thân  hữu  bà  con  đến  thăm  viếng  người  bệnh, trước  tiên nên nói cho họ biết người  sắp  lâm chung  tâm niệm vô cùng quan trọng vì vậy xin họ đừng nên nói hay làm gì mà có thể chướng duyên cho vấn đề vãng sinh của người bệnh.


9.-  Nếu  người  bệnh  do  nghiệp  chướng  hiện  tiền,  không hoan hỷ và chán ghét người niệm Phật, nghe người  trong nhà niệm Phật trong lòng khó chịu, hoặc thấy quỷ thần hiện đến dẫn dắt. Ðây là do người đó nghiệp chướng phát hiện, làm chướng ngại cho việc vãng sinh. Vì thế quyến thuộc nên vì họ đến trước Phật  tiền niệm Phật  sám hối  thay  thế cho họ, khiến họ nghiệp chướng được tiêu trừ, vãng sinh Tịnh độ. Ví như năm ngoái có một cư sĩ mà mẹ cư sĩ này lâm bệnh sắp chết. Người này thỉnh đoàn  trợ niệm đến nhà  trợ niệm. Bà  ta nghe niệm Phật,  tâm  lý khó  chịu  khởi  lên  cho  rằng  những  người  trợ  niệm  tâm  không chuyên chú. Lúc bấy giờ có một vị cư sĩ quy y Sư phụ (tác giả) biết được bà này do nghiệp chướng khởi đến nên đem Kinh Ðịa Tạng đọc tụng sám hối thay thế hết sức thành khẩn, lại vì bà mà niệm Phật, khiến cho tâm bà ta vô cùng hoan hỷ niệm Phật mà vãng sinh Tịnh độ. Phần trên có nói là đọc tụng Kinh Ðịa Tạng có  thể  tiêu  trừ nghiệp chướng oan gia, giả như không  thể đọc tụng được  thì chỉ niệm danh hiệu của ngài cũng có  thể  tiêu  trừ nghiệp chướng. Lại có một vị cư sĩ cha lâm bệnh lúc gần chết, thấy có một người đàn bà và một con chó đến đòi mạng. Vị cư sĩ  này  liền  thay  cha mà  niệm  Phật  và  sám  hối,  về  sau  chẳng thấy hình ảnh trên đến nữa, mà ngược lại cha cư sĩ lại thấy hai vị tăng đến trước ông mà nói rằng “Ðời trước ông làm trở ngại việc vãng sinh của chúng tôi, nên nay chúng tôi cũng làm ngăn trở việc vãng sinh của ông”. Một lần nữa cư sĩ này lại thay cha tiếp  tục  sám  hối  niệm Phật,  đồng  thời  cầu  nguyện  cho  hai  vị tăng cũng như cha mình được vãng  sinh. Nếu  trường hợp cha ông được vãng sinh thì sẽ trở lại trợ giúp cho hai vị tăng được vãng  sinh để  sám hối  lỗi  lầm xưa kia ông đã  tạo, khoảng một thời gian  sau,  thì cha vị cư  sĩ này không còn  thấy hai vị  tăng đến  nữa.  Sau  cùng  ông  lại  thấy một  vị  lão  tăng  đến  và  nói: “Ông đã được  tiêu  trừ  tội chướng,  trong vòng ba  thất sẽ được vãng sinh vào cấp thứ năm của chín phẩm”. Lại nói tiếp: “Sở dĩ vì ba  thất  là do  con ông biết đạo,  trong ba  thất đầu  tức  là 21 ngày, gia đình của ông  trợ niệm  rất nhiều cho ông, khi hết 21 ngày thì ông được vãng sinh vào địa vị thứ năm của chín phẩm hoa  sen  tức  là  Trung  phẩm  Trung  sinh”. Hãy  lấy  đó mà  suy nghĩ kỹ, quyến thuộc chỉ thay thế người bệnh sám hối và niệm Phật, hoặc đọc tụng Kinh Ðịa Tạng, hoặc niệm danh hiệu A Di Ðà Phật mà có công năng như vậy.


10.-  Nếu  người  bệnh  sắp  đến  giờ  phút  tắt  thở  và  đã  có nhiều  người  trợ  niệm,  quyến  thuộc  nên  đến  trước  bàn  Phật,hoặc  quỳ,  hoặc  đứng  niệm một  cách  chí  thành  khẩn  thiết  cầu Phật từ bi tiếp độ hương hồn của người quá vãng được về Tịnh độ. Nếu người trợ niệm quá ít hoặc chẳng có thì thân nhân nên đến bên  cạnh người bệnh mà  niệm Phật,  tuyệt đối  không  nên đứng  đối  diện  trước mặt  người  bệnh.  Vì  sao?  Vì  chính  thời điểm này, nếu người  thân  thấy được bệnh nhân khó mà  tránh được  khóc  lóc,  thương  yêu,  làm  phương  hại  cho  chánh  niệm của người bệnh. Tốt nhất  là  thân nhân nên đứng hai bên, hoặc ngồi phía sau bệnh nhân, cố gắng niệm Phật, tuyệt đối là không  được khóc lóc, kêu réo. Nếu bệnh nhân nghe được liền khởi sự luyến  ái,  đau  thương  buồn  rầu  làm  mất  đi  chánh  niệm  niệm Phật. Nếu mất chánh niệm rồi  thì chắc chắn không được vãng sinh Tây  phương. Vậy  vào  giây  phút  này,  chúng  ta  là  những người  thân nhân nên hết sức cẩn  thận, hết sức chú ý,  tuyệt đối không được khóc  than mà nên  lớn  tiếng niệm Phật,  từng  câu, từng chữ thật rõ ràng. Nhờ vào sự trợ niệm của thân nhân cộng với bi nguyện của Phật A Di Ðà sẽ gia hộ cho người bệnh thân tâm  an  lạc  chánh  niệm  rõ  ràng,  nhanh  chóng  vãng  sinh  Tây phương.


11.- Sau khi người chết đã  tắt hơi  thở, nhưng  thi  thể chưa hoàn toàn lạnh hẳn. Thì quyến thuộc nên tiếp tục lớn tiếng niệm Phật  trợ niệm cho vong nhân, không nên khóc  lóc. Ðồng  thời không để  ruồi muỗi đậu  lên  thi  thể, vì  lúc này  thần  thức chưa rời khỏi thể xác, giả sử có một vật gì chạm vào thân thể thì họ cảm thấy đau đớn vô cùng. Có một số người thường hay khám xét  thân  thể  người  chết  để  xem  thử  người  bệnh  sẽ  đi  về  đâu, điều  này  không  có  lợi  ích  gì mà  có  hại  rất  lớn  đối  với  người chết. Vào giây phút quan trọng này, đối với gia quyến nên thỉnh ban  hộ  niệm  đến  trợ  giúp,  nếu  họ  chưa  đến  kịp  nên  y  theo phương pháp trợ niệm mà thực hành, trường hợp họ đến rồi nên tuân theo mọi sự chỉ giáo của họ, không nên tùy tiện làm theo ý kiến  riêng  tư. Tuyệt đối đừng nên  tuân  theo những  tập  tục mê tín vô căn cứ của thế gian. Họ thường nói: “Phàm là người chết thi  thể  còn  nóng,  khớp  xương  còn mềm mại  nên  thay  y  phục cho họ.” Lại có quan niệm cho rằng, nếu người chết rồi lo liệm ngay  nếu  không  sẽ mắc  nợ miên  sàng. Lại một  quan  niệm  là người nhà mất là phải khóc lớn để đẩy lùi hung khí, trên đây là những quan niệm mê tín, tương truyền cho đến ngày nay, nó có hại  cho  người  thân  chúng  ta.  Chính  nó  đã  khiến  cho  nhiều người quyến  thuộc chúng  ta khi mất phải chịu oan uổng nhiều khổ  não,  để  rồi  phải  rơi  vào  ba  đường  ác  đạo:  địa  ngục,  ngạ quỷ, súc sinh.


     Xưa  có một  vị  vua  tên  là A Kỳ Ðạt  bình  sinh  tin  phụng Phật pháp bố thí xây dựng chùa tháp công đức to lớn vô cùng. Thế nhưng vào giờ phút  lâm chung, vị quan phục vụ cho ông nhân vì nhiều ngày chưa ngủ,  tinh  thần yếu đuối  trong khi hầu hạ cho ông, vô tình lấy tay quạt mạnh vào người ông, làm cho vị vua này cảm  thấy đau đớn,  tâm sinh sân hận, sau khi  thân  thể rời khỏi thể xác vì tâm sân hận này mà thác sinh thành một con mãng xà, có một vị cao  tăng biết được những công đức của vị vua này  tạo  tác, và  có  lòng  tin  sâu Tam Bảo,  nên  vì mãng  xà thuyết pháp. Nhân vì nghe pháp được phước đức, ba ngày sau mãng  xà  qua  đời,  thần  thức  liền  được  sinh  cõi  trời.  Lại một trường hợp khác. Xưa có một đôi vợ chồng, sống rất thương yêu hòa  thuận,  bình  thường  cũng  tin  theo  Phật  pháp,  ăn  chay  giữ giới. Một ngày nọ người chồng bỗng nhiên qua đời. Người vợ vô  cùng  đau  đớn  khóc  than  thảm  thiết.  Tuy  thân  thể  người chồng đã chết nhưng thần thức vẫn chưa rời khỏi thể xác, nghe âm  thanh  than  thở  của  vợ mà  tâm  ông  sinh  luyến  ái,  sau  khi thần  thức  rời  khỏi  thể  xác. Vì  tâm  niệm  luyến  ái  đó  ông  liền hóa sinh thành một loại sâu sống trong  lỗ mũi của bà. Một thời gian sau bà cảm thấy khó chịu, phát hiện trong mũi mình có con sâu nên muốn lấy nó ra mà giết. Nhân đó có một vị cao tăng gọi bà  ta mà  bảo:  “Hãy  thương  xót  chồng  bà”. Bà  ta  kinh  sợ  hỏi nhân  duyên  vì  sao? Vị  tăng  nói:  “Chồng  bà  bình  thường  giữ giới phụng trì Tam Bảo đáng lẽ phải sinh thiên. Nhưng vì do bà khóc lóc, làm cho tâm chồng bà sinh luyến ái nên đọa làm con sâu  sống  trên  thân  bà  như  vậy!”. Nghe  nói  như  vậy  bà  thấy thương xót vô cùng,  thỉnh cầu vị  tăng nên vị chồng bà mà nói pháp. Nhân  vì  nghe  được Phật  pháp,  sau  đó  con  sâu  qua  đời được sinh về thiên giới.

Qua hai câu chuyện  trên đều do Kinh nói hoàn  toàn có căn cứ. Ðối với các tập tục cổ hủ nói ra thì hoàn toàn không có bằng chứng. Chúng tôi nhân vì chỗ mê tín dị đoan mà mạnh dạn nói ra sự thật miễn sao cho người mất về sau không còn đọa vào ba đường  ác nữa. Vì  thế  sau khi  người  chết vừa  qua  đời,  thân  thể chưa hoàn  toàn  lạnh hẳn. Chúng ta là người gia quyến, nhất định không được khóc lóc và chạm vào thân thể người mất. Ðiều tốt nhất nên theo sự chỉ đạo của đoàn trợ niệm. Trường hợp không có đoàn  trợ niệm  thì gia quyến hết sức cẩn  thận và nhẹ nhàng êm dịu phải xem đến lúc nào thi thể lạnh hẳn mới bắt đầu thay y phục tắm rửa cho người mất.

Nam Mô A Di Đà Phật!
Trích Những vấn Đề Cần Biết Khi Lâm Chung. (Pháp Sư Thế Liễu)