Gương vãng sanh

[Gương Vãng Sanh]: Cư Sỹ Lý Đức Chi Niệm Phật Vãng Sanh - Tướng Lành Thị Hiện.


1......

NHIẾP THỦ QUANG TRUNG QUI TỊNH THỔ
CHÍNH GIÁC HOA THƯỢNG NGỘ VÔ SANH

GHI CHÉP THỰC TẾ LÝ ĐỨC CHI VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG

ĐẠI TẬP KINH VÂN
-----------------------------------
Thời kỳ mạt pháp 
ức ức người tu hành
Muốn được đắc đạo
Duy chỉ có niệm Phật
Đắc độ sanh tử
Lão pháp sư-ân sư Tịnh Không khuyên dạy chúng ta nên tuân theo giáo hải của tổ Ấn Quang “Đôn luân tận phận, nhàn tà tồn thành”
Lão thật niệm Phật, cầu sanh tịnh độ, theo đó mà tu học, thì người có thoại tướng vãng sanh thù thắng rất nhiều.
Khi đội trợ niệm Diệu Âm thành lập được một tháng, đã nhận được ca lão cư sỹ Lý Đức Chi ở thôn Nam Thái khu Vũ Thanh cầu sinh Tịnh Độ. Lão cư sĩ Lý Đức Chi nghe theo chỉ dạy của lão pháp sư Tịnh Không, một quyển kinh “Vô lượng thọ”, một câu thánh hiệu “A di đà phật”, nhất môn thâm nhập, trường kỳ huân tu, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn, thoại tướng vãng sinh thù thắng hiếm có. Việc bà vãng sinh chứng minh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới là có thật không phải giả, Đại nguyện của đức Phật Di Đà một niệm đến mười niệm đều được độ thoát, chỉ cần đầy đủ tín nguyện, hành 3 tư lương, phát bồ đề tâm, nhất tâm chuyên niệm thánh hiệu Di Đà, khi lâm chung được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc, bất thối thành phật.

Cư sỹ Lý Đức Chi sinh ngày 30 tháng 09 năm 1941 ở thôn Nam Thái, khu Vũ Thanh, thành phố Thiên Tân, trình độ văn hóa tiểu học. Sau kết hôn sinh 3 con trai, 1 con gái, cả một đời là một người nội trợ bình thường chăm chỉ, cần kiệm. Chồng bà qua đời năm 1995, từ năm 2000 qui y cửa Phật đến nay chuyên tu pháp môn tịnh độ nhất tâm niệm Phật. Năm 2003, sau khi kiểm tra phát hiện ra bệnh ung thư và sỏi mật và sau khi phát bệnh bà niệm Phật càng thêm tinh tấn, khi bệnh nguy nan đã có may mắn kết duyên với đoàn trợ niệm, bắt đầu trợ niệm từ ngày 14 tháng 11 năm 2005. Thông qua niệm phật, đọc tụng “kinh địa tạng” đồng thời kết hợp phóng sinh để hồi hướng công đức này cho oán thân trái chủ của Lý Đức Chi, khiến bà giải trừ bệnh khổ, tăng thêm niềm tin niệm Phật kiên định cầu sinh Tịnh Độ đồng thời thỉnh cầu chúng cư sĩ và con cháu cùng cầu xin Phật A Di Đà nhanh chóng tiếp dẫn bà vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc.


Để hoàn thành nguyện vọng của bà, mọi người thành khẩn cung kính quì trước Phật nhất tâm niệm Phật.
Trải qua 16 ngày trợ niệm, do sự chân thành niệm phật của mọi người đã tiễn đưa được từng đoàn đoàn chúng sinh có duyên với bà, 16 giờ 55 phút chiều ngày 30 tháng 11 năm 2005, cư sỹ Lý Đức Chi đã an tường vãng sinh trong tiếng Phật hiệu trang nghiêm, hưởng thọ 65 tuổi.


Tháng 4 năm 2005 lão cư sỹ không nề hà thân mang bệnh nặng cùng với các liên hữu đến tham học tại chùa “Chiêu Minh Tự” Đông Thiên Mục Sơn ở Hàng Châu xa xôi, do đường núi dốc đứng lại thêm cơ thể bệnh tật, bà được người dân miền núi khiêng lên. Sau khi lên núi được cư sỹ Tề dùng tinh thần quên sự sống chết xây dựng lại chùa Chiêu Minh để khích lệ, bà lập chí quyết tâm thêm gạch góp ngói cho đạo tràng, quên đi bệnh tật dày vò, hàng ngày cùng bạn đồng tu vác vật liệu xây dựng đồng thời duy trì 3 giờ sáng dậy, 9 giờ tối nghỉ. Trong thời gian tu học còn xuất hiện kỳ tích ba ngày không ăn không uống cùng mọi người nhiễu Phật, tất cả những điều này là do tâm chân thành nên chiêu cảm được sự gia trì của Phật Bồ tát.
Đức Phật nói: người vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc cần phải có đủ Thiện căn, phước đức, nhân duyên. Thiện căn, nghe đến pháp môn niệm Phật thì tin sâu không nghi ngờ, tin 48 tám điều nguyện của đức Phật A di đà là thật không giả, chỉ cần vạn duyên buông xuống, nhất tâm niệm Phật, khi lâm chung, đều được Phật đến tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh, người nào có thể tin điều này là người có thiện căn đầy đủ. Phước đức, có thể làm theo giáo giới của Phật, chịu làm, chịu thực hành, cũng chính như Ấn Quang Đại Sư đã nói “Đốn luân tận phận, nhàn tà tồn thành”, lão thật niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nếu có thể tu học như vậy chính là Phước Đức đầy đủ. Nhân Duyên, trong đời này có thể gặp được Phật Pháp, nhất là gặp được pháp môn Niệm Phật, đây chính là nhân duyên thù thắng nhất, nếu khi lâm chung, gặp được thiện tri thức tốt, nhắc chúng ta niệm Phật, lại có một môi trường tốt, có bạn đồng tu trợ niệm, đây đúng là người có đại thiện căn, đại phước đức, như vậy, thêm vào là bản thân niệm Phật tu hành, thì làm sao không vãng sinh thế giới tây phương cực lạc chứ?

2..........
“Đây là chị tôi, là bạn liên hữu của tôi, trong thời gian tôi bị bệnh, đã giúp đỡ tôi rất nhiều, hy vọng chị ấy khi lâm chung, sẽ đi con đường như tôi, lưu lại đĩa của tôi để làm ảnh hưởng đến con trai chị, từ ngày bị bệnh đến nay, phát hiện ra từ mùa xuân đến nay, bệnh tình ngày một thêm nặng, tôi ngộ ra rồi, sức khỏe của mình mỗi ngày một kém, tôi biết rồi, quyết tâm không chữa nữa, cám ơn con trai, con gái đã trợ duyên cho mẹ đến cuối cùng, làm mãn nguyện mẹ, đi thế này mẹ thanh thản rồi, điều vui cuối cùng là đi bước này, trong lòng tôi cảm thấy mãn nguyện rồi, hoàn thành tâm nguyện rồi, tôi xin lỗi mọi người vì tôi đã làm không đủ, tôi hy vọng sau khi thành Phật sẽ thừa nguyện tái lai, nhất định độ mọi người đều học Phật, làm nhiều việc thiện, cống hiến cho hòa bình toàn thế giới, tôi ra đi một cách thanh thản, nhất định cầu vãng sinh, bây giờ hoàn thành tâm nguyện của tôi rồi, tôi nhất định đi theo Phật A Di Đà, trước khi các anh chưa đến đây, một ngày 3 lần thuốc, cũng không biết là thuốc gì, mỗi ngày phải tiêm một mũi, không tiêm không được, khó chịu lắm, không uống thuốc, không tiêm nữa, từ tối hôm đó tôi không uống nữa rồi, từ đó về sau không uống thuốc, không tiêm, nó không nôn nữa, mấy ngày này không đau khổ, ban ngày niệm Phật, tối đến vừa hôn mê liền niệm Phật, cháu muốn hiếu kính với mẹ thì niệm nhiều Phật hiệu vào, cháu tôi đã đồng ý, tôi nói cháu à, cháu nhất định phải học tập cho tốt, niệm Phật nhiều cho bà, hôm đó tôi thấy cháu tôi quì ở phòng ngoài niệm Phật, trong lòng tôi thấy vui, hy vọng mọi người làm còn tốt hơn tôi, độ càng nhiều chúng sinh hơn, mong mọi người hãy giúp tôi một tay, đưa tôi đến Tây Phương Cực Lạc vãng sinh, cám ơn mọi người”.
Lão cư sỹ tin sâu, nguyện thiết đối với đức phật A Di Đà, đối với Tây phương cực lạc thế giới, đồng thời đến thời khắc cuối cùng khi lâm chung bà vẫn niệm Phật, khi bà vãng sinh, bầu trời xuất hiện điềm lành, trong phòng tràn đầy ánh sáng hồng rực, rất nhiều người còn ngửi thấy hương thơm lạ, sau khi bà vãng sinh 24 giờ mới tắm rửa thay y phục, sắc mặt bà hồng nhuận, toàn thân mềm mại, còn đẹp hơn cả lúc còn sống, lúc này trên bầu trời lại xuất hiện các hình thù ngũ sắc.
Vãng sinh về Thế giới tây phương cực lạc, cũng ví như trong xã hội vẫn thường nói là di dân từ nơi không tốt đến nơi ở tốt, thế giới này của chúng ta là thế giới ngũ trược ác thế, mọi người luôn phải sống trong khổ nạn, thân tâm mệt nhọc, còn thế giới Tây phương cực lạc là thế giới thanh tịnh, phong cảnh đẹp đẽ, không lo ăn uống, thân tâm an lạc, hơn nữa còn có tuổi thọ vô lượng, vô lượng trí tuệ, thế giới tốt như thế, chúng ta phải làm thế nào mới di dân đến đó được chứ? A Di Đà Phật đã phát 48 đại nguyện, trong đó có 1 nguyện quan trọng nhất là “Khi tôi thành Phật, mười phương chúng sanh, nghe danh hiệu tôi, chí tâm tín nguyện, toàn bộ thiện căn, tín tâm hồi hướng, nguyện sinh nước tôi cho đến 10 niệm, nếu không như nguyện thề không thành chánh giác, ngoại trừ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp. Chúng ta chỉ cần chí tâm chuyên niệm, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Di Đà, hành trì y theo giáo hải của Phật, đời này chắc chắn vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc .

Mặt trời đang nhấp nháy, ánh sáng ngũ sắc rực rỡ chiếu lên người mọi người, mọi người đắm mình trong không khí hoan hỷ của ánh sáng Phật quang chiếu rọi, một đàn bồ câu trắng bay lượn vòng trên không trung, bay về hướng mặt trời.
Tất cả các điềm lành đủ để chứng mình bà đã thực sự vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc, kinh Vô Lượng Thọ viết rằng, Phật A Di Đà, ánh sáng của ngài thiện hảo, còn sáng hơn cả ánh sáng của Nhật Nguyệt đến ngàn ức vạn lần, tối cao của ánh sáng, là vua của các vị Phật, bởi vậy Phật A Di Đà cũng được xưng là vô lượng thọ Phật, vô lượng quang Phật, cũng xưng vô biên quang Phật, vô ngại quang Phật, vô đẳng quang Phật, cũng xưng là trí huệ quang, thường chiếu quang, thanh tịnh quang, hoan hỷ quang, giải thoát quang, an ẩn quang, siêu nhật nguyệt quang, bất tư nghì quang. Quang minh như vậy, phổ chiếu mười phương tất cả các thế giới. Nếu có chúng sanh nào, thấy ánh sáng đó, cấu diệt thiện sinh, thân ý mềm mại. Nếu ở nơi cực khổ trong tam đồ, gặp quang minh này đều được yên ổn, mệnh chung đều được giải thoát, nếu có chúng sanh thấy quang minh đó uy thần công đức, ngày đêm xưng tụng, chí thành không dứt, tùy ý sở nguyện, được sanh Cực Lạc, Phật quang có thể khiến các hữu tình chưa độ đều được độ, những ai đã được độ đều khiến thành Phật.

A Di Đà Phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di
Hám mục trừng thanh vô đại hải

Quang trung hóa Phật vô số ức
Hóa bồ tát chúng diệc vô biên
Tứ thập bát nguyện độ hàm linh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây phương Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.

Trên bầu trời xuất hiện hình ảnh Bồ Tát, long thiên hộ pháp, phượng hoàng.

Nam Mô A Di Đà Phật!
Biên dịch: A Mi Đà Phật. Sanh Tử Chuyện Lớn.Phải Nên Làm Trước
Biên tập: Trần Anh Mộng Lộc