Đạo và đời

[Khai Thị]: Thế Giới Cực Lạc Thật Sự Nhiệm Màu Như Thế Nào?


 

Cực lạc, còn được gọi là An lạc quốc, là tên của Tây phương Tịnh độ, nơi Phật A-di-đà cai trị. Trong thế giới này, mọi chúng sinh đều cầu pháp và sẽ được nhập Niết-bàn. Nguồn hạnh phúc lớn nhất là được nghe A-di-đà giảng pháp, bên cạnh có hai vị Đại Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí được gọi là 2 vị Giáo thọ, là trợ thủ đắc lực của Phật A DI Đà tại Tây Phương.
Vì chúng sanh trong cõi Tây Phương không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui, nên gọi là cõi Cực Lạc.

  NHƠN DÂN NƠI TÂY PHƯƠNG 

1. LIÊN HOA HÓA SANH

Phàm thân mình có ra, ban sơ đều do thần thức gá vào một nơi để thành. Khác hẳn với người cõi Ta Bà gá nơi bụng bà mẹ, người tu tịnh nghiệp lúc vãng sanh Cực Lạc thế giới, thời thân thể gá trong hoa sen báu nơi bảo trì mà hóa sanh.


Lúc thần thức được Phật và Bồ Tát rước về Cực Lạc liền hóa vào hoa sen, khi hoa còn búp được gọi là “ở thai sen”. Dầu thân hình chưa ra khỏi búp hoa, nhưng cảnh tượng và những sự hưởng thọ ở trong hoa đã vui đẹp hơn ở các cõi ở Ta Bà.
Những hoa báu để thác sanh, sự quý đẹp có khác nhau, và thời gian hoa nở cũng chậm mau không đồng. Ðó là vì công đức và trí tuệ của mỗi thần thức thác sanh có hậu bạc cùng sâu cạn không đồng nhau.
Do sự không đồng nầy nên Cực Lạc thế giới có 9 phẩm liên hoa: ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba phẩm hạ.

Ba phẩm bậc Thượng thời liên hoa bằng chất kim cương, bằng vàng tử kim, hay huỳnh kim. Thời gian hoa nở thường vừa thác sanh liền nở, hay cách đêm, hoặc một ngày đêm. Ðây là phần của những vị trước khi vãng sanh, tu hạnh đại thừa, phát Bồ Ðề tâm, thâm ngộ diệu lý vô sanh, tự hành hóa tha, công đức cao dày, trí huệ sâu mà hồi hướng nguyện sanh về Cực Lạc thế giới.
Sáu phẩm dưới thời liên hoa bằng chất thất bảo. Thời gian hoa nở: hoặc nở liền, hoặc bảy ngày đêm, hoặc hai mươi mốt ngày hoặc bốn mươi chín ngày v.v…

Ba phẩm liên hoa bậc Trung là phần của những người trai giới tinh nghiêm, giữ Ngũ giới cấm, cùng người hiếu thảo, những nhà từ thiện, mà dốc lòng cầu về Cực Lạc thế giới.

Ba phẩm bậc Hạ là phần của những người không biết tu tập, không biết làm lành, cho đến những kẻ ở đời gian ác, đến khi sắp chết, lúc hấp hối, mà biết ăn năn tội lỗi rồi chí tâm xưng niệm “NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT” thiết tha cầu sanh Cực Lạc thế giới.

Thông qua đó thấy rằng cứ nơi chín phẩm liên hoa đây: CỰC LẠC THẾ GIỚI LÀ CHỖ ĐỒNG VỀ CỦA TẤT CẢ THÁNH VÀ PHÀM Ở MƯỜI PHƯƠNG. Chẳng những là đạo tràng của các vị đại thừa Bồ Tát, của những bậc đại tâm Thanh Văn, Duyên Giác; của những người tinh tấn tu trì; của các nhà từ thiện làm lành tránh dữ; mà Cực Lạc thế giới cũng là gia hương là nhà của những kẻ tội ác; nhẫn đến mọi loài. Nếu ai tin chắc chí tâm niệm Phật rồi hồi hướng cầu sanh Tây Phương thời đều được về cả, vì nhờ sức nhiếp thọ tiếp dẫn của đức Từ Phụ và chư Bồ Tát.
Chỉ trừ kẻ tạo tội Ngũ nghịch và hủy báng chánh pháp mà thôi.

5 TỘI KHI MẤT NGƯỜI TA KHÔNG CÓ 49 NGÀY:

- Tự tử
- Giết cha, Giết mẹ
- Giết A La Hán
- Làm thân Phật chảy máu
- Phá hoà hiệp tăng

Sau khi thọ mạng đã hết, nhất tâm Niệm Phật, tuỳ vào Đức hạnh sự tu hành mỗi người khác nhau từ bậc Thượng - Trung - Hạ như đã nói trên, mà sự tiếp dẫn và đưa rước về Tây Phương cũng vì thế mà khác nhau.

Sau khi được vãng sanh Cực Lạc không sớm thì muộn đều sẽ thành bậc Thượng Thiện, trụ bậc Bất Thối (tức không còn luân hồi), đồng dự hải hội.
Nơi Cực Lạc, người từ liên hoa hóa sanh. Phật Bồ Tát và nhơn dân đều ngồi tòa sen báu.

2. Về THÂN THỂ.

Nhơn dân nơi Cực Lạc thế giới, thân kim cương từ hoa sen báu sanh ra, da màu huỳnh kim. Tất cả mọi người đều đủ 32 tướng hảo đại nhơn, đồng xinh đẹp như nhau.

Ðức Bổn Sư từng hỏi Tôn Giả A Nan: “Như gã ăn mày đứng bên vị Ðế Vương, thời hình dung của hai người có giống nhau không?”.
Tôn Giả đáp: “Bạch Thế Tôn! Gã ăn mày hình dung xấu xí nhớp nhúa, đâu sánh với vị Ðế Vương được”.

Ðức Bổn Sư phán: “Vị Ðế Vương dầu là sang đẹp, nhưng sánh với Chuyển Luân Thánh Vương thời cũng như gã ăn mày. Trăm nghìn muôn lần quý đẹp của Chuyển Luân Thánh Vương cũng không bằng Thiên Ðế Thích. Trăm nghìn muôn lần quý đẹp của Thiên Ðế Thích cũng không bằng Tự Tại Thiên Vương. Trăm nghìn muôn lần quý đẹp của Tự Tại Thiên Vương sánh không bằng các vị Thượng Thiện Nhơn nơi Cực Lạc thế giới, nhơn dân của đức Phật A Di Ðà".

3. THUẦN VUI KHÔNG KHỔ

Nhơn dân nơi Cực Lạc thế giới không có tất cả sự khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui thanh tịnh.
Phàm những sự thống khổ của muôn loài nhiều đến vô lượng không thể đếm. Tóm lại có 8 điều:
1.- Khổ khi sanh ra.
2.- Khổ khi già yếu.
3.- Khổ lúc bịnh.
4.- Khổ về sự chết.
5.- Khổ vì phải ly biệt người thân mến.
6.- Khổ vì gặp phải kẻ oan thù.
7.- Khổ vì không được toại vọng.
8.- Khổ vì thân tâm đòi hỏi phóng túng.
Nơi Cực Lạc thế giới, người từ hoa sen báu hóa sanh, thời là không “sanh khổ".
Thâm kim cương luôn khương kiện, trẻ đẹp, thời không là “lão khổ” và không “bịnh khổ”.
Thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp mãi đến bổ xứ thành Phật, thời là không “tử khổ”.
Không cha mẹ, vợ con, thời là không “ái biệt ly khổ".
Chư Thượng Thiện Nhơn thường chung cùng hội hiệp, thời là không “oán tắng hội khổ".
Cầu muốn điều chi hay vật chi đều liền được toại ý, thời là không “cầu bất đắc khổ”.
Không thân kiến mà tâm luôn thanh tịnh, thời không “ngũ ấm xí thạnh khổ".
Khổ gì có được ở thế giới, mà nơi ấy sự trang nghiêm thanh tịnh đã đến tuyệt đích!

Cực Lạc thế giới, ngoài các sự vui đẹp về vật chất như ăn mặc, ao tắm, nhà ở v.v…, người Cực Lạc đồng được hưởng những điều vui cao quý hy hữu:
1.- Thường được thấy Phật gần Phật.
2.- Chư đại Bồ Tát là thầy là bạn cùng chung hội hiệp.
3.- Luôn được nghe tiếng diễn nói pháp mầu, không luận chỗ nào và lúc nào, nếu muốn nghe.
4.- Thường được chư Phật hộ niệm.
5.- Sống lâu vô lượng kiếp đồng với Phật.
6.- Không còn lo bị đọa vào ác đạo. Ở Cực Lạc, danh từ ác đạo còn không có thay huống là sự thật!
7.- Vĩnh viễn thoát ly luân hồi.
8.- Thọ dụng tự nhiên, khỏi bận rộn bê trễ công phu hành đạo.
9.- Ðược vào bực chánh định không còn thối thất đạo vô thượng.
10.- Hiện một đời thành Phật.

4. THỌ DỤNG TỰ NHIÊN

Cực Lạc thế giới từ cung điện đền đài, bảo trì, bảo thọ cho đến tất cả vật dụng, đều bằng thất bảo tự nhiên hiện thành, không phải xây dựng tạo tác.
Người Cực Lạc lúc muốn mặc y phục đúng pháp tự nhiên ở trên thân.
Ðến giờ ăn nếu là người muốn bát dĩa vàng, thời bát dĩa vàng liền hiện ra trước mặt. Người muốn bát dĩa bạc, hay bát dĩa lưu ly, thủy tinh, minh nguyệt châu, như ý châu v.v… thì bát dĩa đúng như ý muốn hiện ra trước mặt. Thức ăn thức uống thơm ngon đựng sẵn trong dĩa bát, vừa theo lượng người ăn không dư, không thiếu. Ăn xong, bát dĩa tự ẩn đi, đến giờ ăn lại hiện đến, khỏi dọn khỏi cất. Vật thực vào thân tự nhiên tiêu tan lần, hóa thành hơi thơm theo lỗ chân lông tiết ra ngoài, không còn cặn bã, tẩm bổ thân thể thêm sự khỏe mạnh, tâm được an vui như bực vô lậu.

5. TÂM TÁNH VÀ THẦN THÔNG

Cực Lạc thế giới, người đều trí huệ sáng suốt, biện tài vô ngại. Không một ai dung ngu. Lúc nghĩ tưởng, thường đều thuần là quan niệm đạo đức. Vì thế nên lời nói ra thuần là đúng chánh pháp. Mọi người đều yêu kính nhau. Không tham, không sân, không si, không thân kiến. Các căn tịch tịnh, không phóng dật, không vọng duyên.
Người người đều đủ 5 thứ thần thông:
1.- Thiên nhãn thông, thấy suốt mười phương, người kém nhứt cũng thấy được trăm nghìn ức na do tha thế giới.
2.- Thiên nhĩ thông, nghe thấu mười phương. Người kém nhứt cũng nghe được tiếng thuyết pháp của trăm nghìn ức na do tha đức Phật. Nghe rồi đều nhớ hiểu được cả.
3.- Tha tâm không, rõ biết tâm niệm của người khác, người kém nhứt cũng biết được những tâm niệm của các loài chúng sanh trong trăm nghìn ức na do tha thế giới.
4.- Túc mạng thông, nhớ rõ những đời trước. Người kém nhứt cũng biết rõ những việc trong trăm nghìn ức na do tha kiếp về quá khứ và vị lai.
5.- Thần túc không, trong khoảng thời gian một niệm đi khắp mười phương, người kém nhất cũng đi được trăm nghìn ức na do tha thế giới.

6. CÔNG VIỆC HẰNG NGÀY

Nhân dân Cực Lạc, mỗi sáng sớm, đem bông báu đẹp cúng dường Bổn Phật (A Di Ðà) và vô lượng chư Phật ở thế giới khác. Nếu muốn cúng dường hoa hương, kỹ nhạc, hoặc muốn cúng dường y phục, bảo cái, tràng phan v.v… đương lúc ở trước chư Phật nơi thế giới khác, do oai thần nguyện lực của Bổn Phật A Di Ðà, đồ cúng dường quý đẹp đúng theo ý muốn, liền hiện trên không nhóm lại như mây, rồi uyển chuyển nhẹ nhàng rơi xuống đạo tràng thành cúng dường. Lại còn dùng âm thanh vi diệu ca tụng công đức của chư Phật, kính nghe kinh pháp của chư Phật dạy. Cúng dường nghe pháp xong, bỗng nhiên nhẹ nhàng bay về, đến bổn quốc (Cực Lạc) vẫn còn trước giờ ăn.
Người Cực Lạc sau khi dùng bữa xong đi kinh hành tư duy diệu pháp, hoặc niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Người Cực Lạc, sau khi tắm nơi bảo trì, rồi ngồi trên hoa sen báu tu tập đạo pháp.
Nơi Cực Lạc thế giới, người thì ở trên hư không mà giảng kinh, người thì tụng kinh, người thì tự thuyết kinh, người thì dạy kinh, người thì nghe kinh, người thì tư duy diệu nghĩa, người thì tọa thiền nhập định, người thì đi kinh hành v.v…
Hoặc có những người ở trên bảo địa mà giảng kinh, tụng kinh, thuyết kinh, dạy kinh, nghe kinh hay là tư duy diệu pháp, tọa thiền nhập định cùng đi kinh hành v.v…
Do sự hành đạo nầy, người chưa chứng tứ quả rồi cũng chứng tứ quả, người chưa nhập bất thối địa rồi cũng nhập bực bất thối, không còn thối đoạ trong đường sanh tử nữa.

7. ĐỨC VỊ

Ở Cực Lạc thế giới, mọi người đều trụ bậc bất thối chuyển, nghĩa là sau khi đã được sanh về cõi Cực Lạc, thì tất cả đều đứng vững nơi đạo vô thượng chính giác, không còn bị thối chuyển lui sụt, tiến mãi đến bậc nhứt sanh bổ xứ (Ðẳng Giác) và thành Phật.

Ðược như trên, là vì ở Cực Lạc cảnh duyên trang nghiêm thanh tịnh, thuần một mặt giúp thêm sự tăng tấn cho đạo hạnh.
1.- Thường được thấy Phật, được nguyện lực của Phật nhiếp trì. Như ở trên tàu to, không bị sóng nhồi nước đắm.
2.- Quang minh của Phật thường chiếu đến thân, làm cho Bồ Ðề tâm tinh tấn. Như được ánh sáng mặt trời, khỏi xa hầm sụp hố.
3.- Thường gần gũi Quan Thế Âm, Ðại Thế Chí, chư đại Bồ Tát, được Bồ Tát dắt dìu gia hộ, mọi người ở quanh mình đều thuần là bậc Thượng Thiện, không tà sư ác hữu. Như gần đèn được sáng.
4.- Nước, chim, cây, lưới, gió, nhạc, quang minh v.v… đều luôn diễn nói pháp mầu. Tai nghe tiếng pháp thời tâm liền thanh tịnh.
5.- Ðồ ăn, thức uống, nước tắm rửa đều làm thêm lớn thiện căn.
6.- Tâm ý trọn không kiến chấp vọng duyên, không ác niệm phiền não, chánh niệm thường hiện tiền.
7.- Thân thể lại là kim cương bất hoại. Không già yếu, không tật bịnh, sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp. Không bị già bịnh làm trở ngại công phu. Khỏi phải vô thường làm gián đoạn đạo hạnh.
Ðủ các thắng duyên như trên, có thể nào thối thất đạo tâm mà không quyết định thành Phật hay sao.

Như trong kinh Di Ðà nói: “Chúng Sanh Sanh Về Cực Lạc Thế Giới Đều Là Bậc Bất Thối Chuyển”. Lại nói: “Những Người Nguyện Về Cực Lạc Thế Giới, Đều Được Bất Thối Chuyển Nơi Đạo Vô Thượng Bồ Ðề".
Trong Khởi Tín luận có lời: “Người Sanh Về Cực Lạc Vì Thường Được Thấy Phật, Nên Trọn Không Thối Chuyển”.
Lời lẽ và Pháp môn Tịnh Ðộ ngoài công hạnh chuyên niệm Phật ra rất trọng nơi “Tín” và “Nguyện”.

Hiểu rành cảnh Cực Lạc vi diệu trang nghiêm là gia hương là NHÀ vĩnh viễn của ta sau này, biết rõ thân tâm của người Cực Lạc thanh tịnh siêu thoát, mà cũng sẽ là báo thân trường tồn của ta, do đó nguyện vọng của ta sẽ phải tha thiết mãnh liệt. Gắng công niệm Phật, tu-hành giác ngộ mới được về nơi Tây Phương.
Tín tâm phải sâu, chí nguyện phải quyết. Cộng thêm công-hạnh của ta phải tự thật chuyên cần: như chăm làm lành tránh dữ, gieo trồng từ bi, bỏ ác làm thiện, quay đầu là bờ.
Ví như Ăn chay trường, Phóng sanh, Niệm Phật, cúng lạy Cửu huyền, Ấn tống kinh, Bố thí, Cúng dường, Tạc tượng,..vv.. Như thế chín phẩm sen vàng mới thật sự có cơ hội nắm phần chắc trong tay.
Nếu đã nghe, biết và được báo ở Cực Lạc thế giới rồi thì phải thiết tha hâm mộ muốn về, luôn luôn khắc nhớ rành rẽ nơi lòng không một giây xao lãng, thì ắt sẽ được thành tựu quán hạnh viên mãn.

 Sau khi đọc kinh, niệm Phật xong mỗi ngày, ta đều chí tâm phát nguyện, sau khi hết báo thân này con nguyện sanh về Tây Phương, thì mới được về Tây Phương Tịnh Độ (còn không đã làm nhiều việc, đọc kinh mỗi ngày mà không có sự phát nguyện muốn về Tây Phương không tha thiết thì sẽ phải chịu sự sắp xếp ngẫu nhiên).

Con tên.....Tuổi.....Pháp danh
Nguyện sanh Tây Phương tịnh độ trung,
Cửu phẩm Liên Hoa vi phụ mẫu.
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ tát vi bạn lữ,
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

Nguyện đem công đức lành, cầu 4 ân 3 cõi, con cùng với chúng sanh đồng sanh về Cực Lạc.

Tiếp đến đứng xá hoặc lạy 4 hướng (12x4=48 lạy), mỗi hướng 12 lạy, vị trí từ:
  1
4   3
  2
48 lạy tương đương với 48 lời Thệ nguyện của Đức A Di Dà. Mặc dù chưa được về nơi đó nhưng 10 phương chư Phật thấy vậy cũng đồng hoan hỷ, vui mừng vô cùng.

Tịnh Độ Tông Việt Nam - 越南淨土宗 - Vietnam Pure Land Buddhism

Hãy thường niệm
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT-南無阿彌陀佛-NAMO AMITABHA BUDDHA

Nguyện pháp giới chúng sanh
VÃNG SANH CỰC LẠC QUỐC - BE REBORN IN THE PURE LAND

Trích VẠN VẬT THÁI BÌNH
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!