Đạo và đời

[HỘ NIỆM]: Làm thế nào để niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật.


 

 

 

NAM MÔ PHÁP GIỚI TÀNG THÂN A DI ĐÀ PHẬT

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

KHAI THỊ QUAN TRỌNG 

ĐỂ TU HÀNH TỊNH ĐỘ TÔNG

 

 

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ

NIỆM PHẬT VÃNG SINH BẤT THOÁI THÀNH PHẬT

 

 

 

 

THÍCH TỊNH KHÔNG kính đề Minh Ngộ dịch từ Hán ngữ

MÙA VU LAN PHẬT LỊCH 2555 - 2011

 

Chư vị Đại đức: cuốn sách nhỏ này là sự khai thị cực kỳ quan trọng của Tịnh độ Tông. Cơ duyên “làm thế nào để niệm Phật vãng sinh bất thoái thành Phật” ở ngay trước mắt mỗi người. Nếu quả thực có thể tín, giải, y giáo tu hành, thì vạn người tu vạn người vãng sinh vậy. Hãy trân trọng, trân trọng! Mong các vị đồng tu chúng ta cùng gắng sức.

 

Tịnh nghiệp Học nhân Thích Tịnh Không  đính lễ phụng khuyến

 

PHÁP SƯ DIỆU CHÂN giám định

THÍCH THẾ LIỄU kính thuật

 

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT  KHI LÂM CHUNG

 

Tâm tính chúng sinh, cùng Phật tương đồng, do mang cái mê, mà luân hồi không ngừng. Như Lai từ bi, tùy cơ thuyết pháp, để mọi hàm thức, có đường về nhà. Không làm sao được, vì căn tính chúng sinh vạn người không đồng, nếu không phải người vượt trên khuôn khổ bình thường, thì nhất định khó thoát khỏi luân hồi. Vì thế đặc biệt mở ra, pháp môn Tịnh độ, phổ nhiếp tất cả, thượng trung hạ căn. Ngũ nghịch thập ác, thân đọa địa ngục, một niệm chí thành, liền đăng bỉ ngạn. Bồ Tát Đẳng giác, đức ngang với Phật, còn phải vãng sinh, để chứng được bồ đề. Vô số phàm phu, phiền não tràn đầy, không chịu niệm Phật, làm sao khá được! Xin nhắn gửi người đời, cùng sinh tín nguyện, chấp trì Phật hiệu, trước sau không đổi. Đợi tới khi lâm chung, được Phật tiếp dẫn, đốn xuất ngũ trọc, thẳng lên cửu phẩm. Thấy Phật nghe pháp, thân chứng vô sinh, theo vòng đại nguyện thừa, độ hết thảy hữu tình.

 

 

MỤC LỤC

Lời tựa ………………………………………..9

Từ lời tựa ……………………………………13

Luận về đạo lý người niệm Phật lúc lâm chung vãng sinh và không vãng sinh ………………17

Các việc quyến thuộc phải chú ý ……………25

Hỏi đáp về trợ niệm …………………………37

Nói về một niệm vãng sinh Tây Phương khi lâm chung … ……………………………………..40

Vài điểm người trợ nhiệm phải hiểu rõ ...........43

Nhân quả tối thắng của người trợ niệm ……..48

Về vấn đề thanh khiết trong phòng bệnh ……50

Phá trừ nghi chướng …………………………52

Sự Khai thị lúc lâm chung …………………...56

Giải thích hết nghi ngờ về bệnh khổ khi lâm

chung …………………………………………59 Phương pháp trợ niệm ………………………..61

Thời gian tắm rửa thay áo ……………………65

Biện pháp tốt nhất để tiến dẫn vong …………65

Hỏi đáp về trung ấm …………………………67

Dẫn chứng yếu ngữ của “Phẩm Lợi ích tồn vong trong Kinh Địa Tạng” làm lời kết ……………71

Hỏi đáp phụ lần thứ hai ………………………72

Lời bạt ………………………………………..74

 

 

 

 

 

LỜI TỰA

     Như Lai vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời, đó là khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. Nhưng khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật, tất phải có phương tiện. Đúng là có tam tạng mười hai bộ giáo điển, tám vạn bốn ngàn pháp môn. Cứu cánh của nó quy đến cùng, đều là khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật, đều vì một đại sự nhân duyên này vậy.

     Kinh Pháp Hoa dạy: “Ta lấy trí tuệ lực,biết được tính dục của chúng sinh, phương tiện mọi pháp, đều khiến cho được hoan hỷ.” Lại dạy: “Nay ta vui mừng vô uý, ở trong hàng Bồ tát, thẳng thắn bỏ phương tiện, chỉ thuyết đạo vô thượng.” Phương tiện thuyết các pháp, là phương tiện vậy; thẳng thắn bỏ phương tiện tức là chân thực vậy. Mở cửa phương tiện, hiện ra tướng chân thực. Một kinh Pháp Hoa này, vì thế là vua duy nhất của tam tạng vậy.

     Pháp mộn Tịnh độ, được gọi là phương tiện bậc nhất của phương tiện, liễu nghĩa vô thượng của liễu nghĩa, viên đốn tối cực của viên đốn. Đại sư Ngẫu Ích dạy: “Chư Phật thương xót quần mê, tùy cơ giáo hóa, tuy quy về gốc là không hai, mà phương tiện có nhiều cửa. Tuy thế trong tất cả các phương tiện, cái cầu được thật thẳng tắt thật viên đốn, thì có chi bằng niệm Phật cầu sinh Tịnh độ.”. Thì biết pháp môn Tịnh độ, thực là cùng ý vị với Pháp Hoa, tức là phương tiện, cũng tức là chân thực. Ấn Tổ (Ấn Quang đại sư) thường dạy: “Chúng sinh trong chin giới rời pháp này, trên không viên thành được Phật đạo, chư Phật mười phương bỏ pháp này, dưới chẳng thể phổ độ nổi quần sinh.”. Công dụng của pháp môn Tịnh độ như thế, cho nên mười phương cùng tán thán, chín giới đồng quy, ngàn kinh điển đều nêu rõ, vạn luận cùng tuyên thuyết vậy.

     Đến như tu học pháp môn Tịnh độ, cần nhất chân tín thiết nguyện (tin tưởng thực sự, mong muốn tha thiết), chuyên trì danh hiệu (Phật), đến khi lâm chung, có quan hệ khác thường. Ngày trước Ấn Tổ đã cho in cuốn sách “Cái cầu sửa soạn cho sự lâm chung” (Sức chung tân lương), truyền bá xa gần, người được lợi ích của nó rất nhiều. Nay các Pháp sư Tây Chấn, Thế Liễu vv…, vì cầu phổ biến lưu truyền, cho phụ nữ trẻ em đều hiểu, đã biên soạn đổi thành “Những điều cần biết khi lâm chung” (Sức chung tu tri). Văn tuy dễ hiểu, ý thực chu đáo rõ ràng, nếu có thể coi trọng hiểu sâu nó, theo pháp để thi hành, người chết nhất định có thể vãng sinh Tây phương, ích lợi của nó, làm sao kể xiết!

     Về nghĩa lý của pháp môn Tịnh độ, tuy có ngàn kinh vạn luận, đã nói không còn thiếu gì, nhưng vì có người còn nghi hoặc, nên cũng không thể không giải thích thêm. Hoặc là nói niệm Phật nên niệm thực tướng Phật, không nên niệm sáu chữ Hồng danh. Đó là nghi hoặc vậy! Gọi là thực tướng, tức là rời hết mọi tướng, tức là hết cả mọi tướng, thì tịch và chiếu không hai, thân và độ không hai, tính và tu không hai, chân và ứng không hai; không có gì không phải thực tướng, làm sao có thể rời sáu chữ Hồng danh, mà chỉ cầu riêng thực tướng được? Vì thế Hồng danh vừa cất lên, pháp giới thông suốt, sáu chữ giữ được vững, diệu thể sáng tỏ, người kia chia thực tướng, Hồng danh làm hai thứ, đúng là kiến giải đó không thể biết được thực tướng vậy. Hoặc nói nên niệm Tỳ Lô Già Na, không nên niệm A Di Đà. Tỳ Lô Già Na, là Pháp thân Phật, A Di Đà, là Ứng thân Phật. Điều này cũng là mê hoặc vậy! Ba thân: Pháp, Báo, Ứng, tức một mà là ba, tức ba mà là một, tức Tỳ Lô tức là Di Đà, tức Di Đà tức là Tỳ Lô, người kia lại chia làm hai, đúng là kiến giải đó không thể biết được Tỳ Lô vậy. Hoặc lại nói nên cầu sinh về Thường Tịch Quang Độ, không nên cầu sinh về Tây phương Cực Lạc Thế giới. Điều này cũng là mê hoặc vậy! Tịch Quang, Thực Báo, Phương Tiện, Đồng Cư, danh tuy có bốn, mà thể của nó là một. Chưa đoạn được kiến tư (hoặc), tất sẽ sinh về Đồng Cư; đã đoạn được kiến tư (hoặc), tất sinh Phương Tiện; đoạn được vô minh, tất sinh báo thân, chứng được một phần Tịch Quang, vô minh đoạn hết, được cứu cánh Tịch

Quang. Mà Thường Tịch Quang Độ, vô sinh cũng vô bất sinh, làm sao có thể cầu sinh? Người kia hoàn toàn không hiểu rõ công hành của đoạn chứng, thứ vị của sự tiến tu, sai lầm lấy Tịch Quang, để phá Cực Lạc này; lại không biết Cực Lạc Đồng Cư, ở dưới Tịch Quang, sai lầm lấy Tịch Quang, tăng thêm cho Cực Lạc, lần nữa đúng là kiến giải đó không thể biết được Tịch Quang vậy. Hoặc lại nói tức tâm là độ, tâm tịnh thì Độ tịnh, chỉ cần cầu sinh về Cực Lạc của tự tâm, sao lại phải cầu sinh về Cực Lạc nơi khác? Điều này cũng là mê hoặc vậy! Tâm tức là pháp giới, Cực Lạc tuy ở cách mười vạn ức quốc độ, nguyên vẫn chưa lìa khỏi pháp giới, tức là chưa lìa khỏi tự tâm vậy. Thậm chí ngày nay cưỡng ép lấy duyên cảnh lục trần làm tự tâm, mà muốn nạp Cực Lạc Thế giới vào vọng tâm của duyên cảnh lục trần, mà cầu sinh về đó, làm sao không sai lầm được! Tất cả các mê hoặc này, đều vì chỉ nghe tên trong sách, mà không nghiên cứu về nghĩa lý, chỉ tỏ rõ sự ngu si vô văn ám chứng, tránh sao khỏi sự chê cười là chuột bắt hụt chim, người hiểu biết không nên bị mê hoặc vì những thứ này vậy! Một số điều này, đều là các bệnh mà người thời nay dễ phạm phải, không đủ sức mà theo đuổi mục tiêu cao xa, theo danh quên thực chất, vì sự rườm rà thừa thãi không có nội dung, mà xếp chung một loại, kính mong các học giả xét kỹ!

     Về ý nghĩa của sự trợ niệm lúc lâm chung, cùng phương pháp của nó, trong văn bản tự thuật rất tỉ mỉ, nên không bàn lại ở đây.

     Tháng Mười nông lịch Giáp Ngọ,

     Diệu Chân viết tựa tại Hoằng Hóa Xã, Thượng Hải

 

TỪ LỜI TỰA

     Sự tình bi ai đau khổ nhất của thế gian, không gì hơn cái chết. Về sự chết, không ai không biết, và cũng không ai có thể tránh được. Nếu chỉ biết cái chết là bi ai đau khổ, mà không biết cầu tu học Phật pháp, ra khỏi tam giới, vĩnh viễn thoát khỏi cái chết, thì đó không phải là sự đau buồn uổng phí, chẳng được ích lợi gì sao? Dù cho có thể cầu được pháp môn, nhưng không khế cơ, có tu không chứng, mà vẫn trong sáu nẻo luân hồi, điều đó cũng không phải là sự đau buồn uổng phí, chẳng được lợi ích gì sao? Nên Đức Thế Tôn Thích Ca, vào hơn ba ngàn năm trước đây, trong đại tập kinh, đã sớm nói rõ: “Thời đại mạt pháp, triệu triệu người, chỉ dựa vào sức giới định tuệ của tự mình để tu hành, ít có người nào có thể trừ hết phiền não nghiệp hoặc, chứng đắc đạo quả Thánh vị; chỉ có dựa vào pháp môn tín nguyện niệm Phật, kiêm dựa vào sức bản thệ nguyện của A Di Đà Phật, cầu sinh Tây phương, mới có thể tận đắc độ thoát sinh tử.”  Lại nữa, Ấn Quang Đại sư của Tô Châu Linh Nham, Tổ thứ mười ba của Liên Tông dạy rằng: “Chúng sinh trong chín giới, rời khỏi pháp môn niệm Phật này, trên không viên thành Phật đạo; chư Phật mười phương, bỏ pháp môn niệm

Phật này, dưới chẳng thể phổ lợi cho quần sinh.” Nên biết Phật, Tổ từ tâm triệt để, thương xót sâu xa chúng sinh trong thời mạt pháp chúng ta, thiện căn mỏng manh, trí tuệ thấp kém, không biết thời cơ, tu sai pháp môn, có tu không đắc, phí hết tâm lực, lỡ luôn một đời, nên nói như thế. Nên biết pháp môn Tịnh độ tín nguyện niệm Phật, bao hết mọi căn cơ, bất kể là tăng, tục, nam, nữ, già, trẻ, thông minh, ngu đần, cho đến phát tâm tu sớm, muộn, tội nghiệp nhẹ, nặng, nhiều loại người, nếu ai đầy đủ chân tín, thiết nguyện, thành tâm niệm Phật, cầu sinh Tây phương suốt đời không thoái lui, đến lúc lâm chung, nhất định đều nhờ Phật lực, tiếp dẫn vãng sinh Thế giới Cực Lạc Tây phương. Tức là người thường ngày chưa biết tín nguyện niệm Phật cầu sinh Tây phương, lúc lâm chung nếu gặp được thiện hữu khai đạo, khiến cho người ấy sinh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu sinh Tây phương, các người quyến thuộc vân vân… đều không khóc lóc nỉ non, cho đến hỏi han dài ngắn, hàng loạt trở ngại, mà hơn thế giúp đỡ niệm Phật đúng pháp, người đó nhất định được vãng sinh Tây phương. Nên biết, sự cần thiết của vãng sinh Tây phương, tuy quyết định ở một niệm cuối cùng của tự thân người đó, nhưng cũng nặng về sự trợ niệm đúng pháp. Đáng buồn thay! Phương pháp trợ niệm lúc lâm chung ra làm sao, tục nhân tại gia, còn chưa được phổ biến hiểu rõ, khi thấy người lâm chung, những quyến thuộc vân vân… của người đó, hoàn toàn chẳng biết niệm Phật trợ giúp, đưa thần thức người chết vãng sinh theo Thánh đạo ở Tây phương Cực Lạc Thế giới, vĩnh viễn hưởng sung sướng; mà trái lại bi ai nỉ non gào khóc, đẩy thần thức người chết đọa vào ác đạo địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, chịu đau khổ lâu dài. Đúng là Pháp sư Tây Trấn, từ tâm chí thiết, thương xót tục nhân tại gia, nhiều người chưa nghiên cứu về Phật học, không biết phép trợ niệm cho người lâm chung, có công dụng kỳ diệu chỉ sắt thành vàng, nên đã đi khắp nơi tuyên giảng, nói rõ sự việc lợi hại khi mạng chung, cho đến tổ chức các đoàn trợ niệm cho sự lâm chung, học tập phương pháp trợ niệm, vì để tịnh nghiệp cho người ra đi vào lúc lâm chung, giúp trở thành đại sự nhân duyên vãng sinh Tây phương; lại vì hai cuốn sách “Sức chung tân lương” (Cái cầu sửa soạn cho sự lâm chung) và “Nhân sinh chi tối hậu”, văn nghĩa quá sâu không dễ học tập, cho nên Pháp sư Tây Trấn vân vân… nhiều lần nhắc nhở lựa chọn yếu ngữ về sự lâm chung của các bậc cổ đức, dùng văn bạch thoại thông tục viết thuật lại, để làm tư liệu học tập. Lại buồn lo kẻ vô học, tuy lựa chọn đọc vài đoạn bản thảo, cũng rất miễn cưỡng. Rất sợ biến đổi văn nghĩa, sai loạn Phật pháp, để lại sai lầm cho chúng sinh, tuy từ thiện tâm, trái lại tạo tội lớn. Vì thế, đã đem bản thảo kính thỉnh các cao tăng đại đức nổi tiếng ở quốc nội hiệu đính, sau đó mới dám cho in. Xin thỉnh cầu các liên hữu đồng nguyện khắp nơi! Hễ đọc sách này, xin đừng chê văn tự nông cạn sơ sài. Xin dựa vào nghĩa thực của nó, mà thực hành, tất ai ai đều vãng sinh, tức là có thể cùng ra khỏi cõi Sa bà, mãi mãi rời khỏi khổ đau của sinh tử; hoặc chứng được an dưỡng, vĩnh viễn hưởng thụ vui sướng tuyệt diệu của Niết Bàn.

Mùa Thu năm 2981 Phật lịch,

Ngày Hoan Hỷ Phật,

Hậu học Tịnh nghiệp Thế Liễu cẩn tự tại Tinh xá Nhất Hạnh Hương Thôn

     

 

 

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT 

KHI LÂM CHUNG

Pháp sư Diệu Chân giám định

Thích Thế Liễu kính thuật

LUẬN VỀ ĐẠO LÝ NGƯỜI NIỆM PHẬT LÚC LÂM CHUNG VÃNG SINH VÀ KHÔNG VÃNG SINH

 

     Phật Thích Ca Mâu Ni tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc ở Xá Vệ quốc, thuyết “Kinh A Di Đà”, tán thán y chính trang nghiêm của Tây phương Cực Lạc Thế giới, khuyên chúng sinh, hãy phát nguyện vãng sinh. Trong Kinh nói: “Như Ta nay, tán thán công đức lợi lạc bất khả tư nghị của Phật A Di Đà. Phương Đông cũng có Phật A Súc Bệ vân vân…; thế giới phương Nam, có Phật Nhật Nguyệt Đăng vân vân…, thế giới phương Tây, có Phật Vô Lượng Thọ vân vân…, thế giới phương Bắc, có Phật Diệm Kiên vân vân…, thế giới phương dưới, có Phật Sư Tử vân vân…, thế giới phương trên, có Phật Phạm Âm vân vân…,  cùng hiện ra tướng lưỡi rộng dài, nói lời thành thật: “Chúng sinh các ngươi,  phải nên tin bản kinh tán dương công đức bất khả tư nghị , tất cả chư Phật hộ niệm.” Vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới là một đại sự nhân duyên, chư Phật sáu phương, đồng thanh tán thán. Hễ có sinh tín, phát nguyện, niệm Phật cầu sinh Cực Lạc Thế giới, thì nhất định có thể vãng sinh, sự thực lý thực, ai nấy cũng nên đế tín!

     HỎI : Người niệm Phật nếu như nói tất cả đều có thể vãng sinh Tây phương. Tại sao tôi thấy rất nhiều người xuất gia, tại gia, trong lúc bình thường, cũng luôn luôn niệm Phật, luôn luôn nói phải cầu sinh Tây phương, đến lúc lâm chung, thường chết một cách hồ đồ, không có bao người thật sự có thể vãng sinh Tây phương, đây là đạo lý gì?

     ĐÁP : Đây là lúc lâm chung của hành nhân (hành nhân

là người đi, trong sách này chỉ người chết - người dịch chú thích), lý do là nhân duyên không đầy đủ. Nếu nói nhân duyên có thể đầy đủ, vậy thì mười người sẽ có mười người vãng sinh, một trăm người sẽ có một trăm người vãng sinh.

Ngàn vạn người sẽ có ngàn vạn người vãng sinh.

     HỎI : Nhân duyên là gì?

     ĐÁP : Hành nhân lúc bình thường chân tín, thiết nguyện, niệm Phật cầu sinh Tây phương, đến lúc lâm chung cũng chân tín, thiết nguyện, niệm Phật như khi bình thường, tâm niệm ấy tức là NHÂN tự lực. Nếu bình thường chưa biết việc tín nguyện, niệm Phật, cầu sinh Tây phương, đến lúc lâm chung, gặp được thiện hữu khai đạo, khiến người ấy sinh tín, phát nguyện, cầu sinh; tâm tín, nguyện, cầu sinh này, cũng là NHÂN tự lực. Phật A Di Đà Giáo chủ của Tây phương Cực Lạc Thế giới và vạn đức Hồng danh của Ngài, có thể khiến chúng sinh vãng sinh Cực Lạc, đây là DUYÊN tha lực. Lâm chung gặp được thiện hữu trợ niệm, cũng là DUYÊN tha lực.      HỎI : Khi hành nhân lâm chung, nhân duyên đầy đủ, thì có thể vãng sinh Tây phương, đây là đạo lý gì?      ĐÁP : Hành nhân khi thọ mạng sắp hết, chân tín, thiết nguyện, niệm Phật. Tôn Phật sở niệm, là DUYÊN tha lực, tâm năng niệm, là NHÂN tự lực. Đúng vào thời gian chân tín, thiết nguyện, niệm Phật này, là dùng tâm năng niệm, niệm tôn Phật sở niệm. Tôn Phật sở niệm, vì tâm năng niệm mà hiển hiện, tâm năng niệm, vì tôn Phật sở niệm mà thanh tịnh. Vào lúc này, tức là cảm ứng đạo giao giữa tự lực và tha lực, NHÂN DUYÊN HÒA HỢP, cho nên có thể vãng sinh Tây phương, đây là đạo lý nhất định. 

     HỎI : Hành nhân vào lúc lâm chung, NHÂN DUYÊN vì sao lại không thể đầy đủ, không thể vãng sinh Tây phương?

     ĐÁP : Hành nhân lúc bình thường, công phu tín nguyện niệm Phật, chưa thể thuần thục, đến khi lâm chung, tuy có tâm (có NHÂN) tín nguyện cầu sinh Tây phương. Nhưng bị bệnh khổ bức bách, tâm niệm Phật không khởi lên được, không có thiện hữu khai đạo an ủi, và giúp đỡ niệm Phật (không có DUYÊN), lại gặp người gia thuộc không biết (phép trợ niệm), thêm nữa còn khóc lóc bi ai, gây hàng loạt chướng ngại. Tâm lý người bệnh đó, liền nổi lên rất nhiều khổ não, vậy hết sức mong cầu gia nhân quyến thuộc, không được khóc lóc trở ngại, mà phải giúp đỡ người ấy niệm Phật, đưa tiễn sinh về Tây phương. Không biết làm sao nói ra được. Tâm người bệnh đó, đã đau khổ, càng thêm đau khổ. Đến khi lâm chung, tâm thức đó, vốn là có thể vãng sinh về Phật quốc trang nghiêm thanh tịnh của Phật A Di Đà, vĩnh viễn hưởng sung sướng và viên thành Phật đạo, phổ độ chúng sinh. Nhưng lại bị người nhà, quyến thuộc…, vì duyên cớ bi ai nỉ non khóc lóc gây nhiều chướng ngại, một tâm niệm cuối cùng, đã theo phiền não mà đi, không biết rơi vào nẻo nào. Đây là quan hệ của có NHÂN không có DUYÊN, không thể vãng sinh Tây phương.

     (*) Lại có một loại hành nhân, lúc bình thường, tín nguyện niệm Phật đều chưa thiết thực, đến khi lâm chung, trợ duyên rất tốt, cũng có các thiện hữu giúp đỡ niệm Phật (có DUYÊN) vv… Lại được người nhà đều không khóc lóc gây các chướng ngại. Bởi vì hành nhân tự tâm sinh điên đảo, tham luyến tình dục thế gian, cho đến yêu quý con cháu, tài sản mọi sự, không phát tâm nguyện niệm Phật cầu sinh Tây phương (không có NHÂN). Đến một tâm niệm cuối cùng khi lâm chung, vẫn theo niệm tình cảm ái dục mà đi, theo vào thiện hay ác đạo, đây là quan hệ giữa không có NHÂN mà có DUYÊN, không thể vãng sinh Tây phương.

     (*) Lại có một loại hành nhân, lúc bình thường khi niệm Phật, chuyên cầu cho gia đình được bình an tốt đẹp, thọ mạng lâu dài vân vân…, đến khi lâm chung, lúc đó chỉ sợ chết! Khi bệnh chưa thật nặng, tuy cũng niệm Phật, người ấy chí tâm cầu cho bệnh mau hết, không phát tâm nguyện cầu sinh Tây phương (không có NHÂN). Tới kỳ bệnh cực kỳ trầm trọng, khi phát hiện bệnh khổ, lúc ấy không thể niệm Phật được, chỉ có thể kêu trời kêu đất, gào cha gào mẹ. Nếu người nhà quyến thuộc vân vân…, không tin Phật pháp. Hoặc tuy có tin Phật pháp, mà chưa hiểu rõ nhiều nghĩa lý của kinh Phật. Vậy thì không chỉ không thể khai đạo và trợ niệm (không có DUYÊN), mà còn lớn tiếng gào khóc tăng thêm lớp lớp chướng ngại, phiền não và bệnh khổ trong tâm người bệnh kia không kể xiết được, so với người rơi xuống giếng lại bị ném đá, còn đau khổ phiền não hơn nhiều. Với loại người này, một tâm niệm cuối cùng khi mạng chung, nhất định sẽ đi theo niệm phiền não ác độc, đọa lạc vào ba đường ác, đây là quan hệ giữa không có NHÂN và không có DUYÊN, không thể vãng sinh Tây phương. 

     Phần trên đã nêu ra sơ lược ba loại người này, vào lúc lâm chung, có NHÂN tự lực, không có DUYÊN của tha lực, có DUYÊN tha lực, không có NHÂN tự lực, không thể có được hai lực: tự lực và tha lực, vì không có cảm ứng đạo giao, nhân duyên không hòa hợp, cho nên không thể vãng sinh Tây phương được.

     HỎI : Khi hành nhân lâm chung, NHÂN DUYÊN như thế nào có thể xem là đầy đủ? Có thể vãng sinh Tây phương?

     ĐÁP : Như có một loại người căn cơ lớn, lúc bình thường, chân tín, thiết nguyện, niệm Phật, tín nguyện đã cực kỳ chân thiết, công phu niệm Phật lại cực kỳ thuần thục, khi lâm chung, không cần người khác trợ niệm, người ấy tín nguyện niệm Phật tự nhiên như lúc bình thường, không có một tơ hào các tướng động, tướng tĩnh, tướng khởi lên, tướng ngừng nghỉ, tướng đau khổ, tướng vui sướng, tướng thuận, tướng nghịch, tâm niệm niệm, an trú trong Hồng danh A Di Đà Phật (Chính định thực tướng quả hải của Như Lai), Kinh Di Đà dạy: “Nhất tâm bất loạn, tức được vãng sinh” là vậy. (Niệm tâm là NHÂN của tự lực NĂNG CẢM, Phật cảnh là DUYÊN của tha lực SỞ CẢM). Đây là quan hệ của NHÂN và DUYÊN đầy đủ.

     (*) Lại có một loại hành nhân tầm thường, lúc bình thường, chân tín, thiết nguyện, công phu niệm Phật chưa thể thuần thục, đến lúc lâm chung, tâm tín nguyện cầu sinh Tây phương đó, so với lúc bình thường phải khẩn thiết hơn, bất kể bệnh khổ gì, hàng loạt phiền não hiện ra, tâm cầu nguyện được vãng sinh Tây phương của người ấy, trước sau không thay đổi, dù cho khó niệm Phật ra lời, người nhà quyến thuộc vv… của người ấy đều có tri thức, hiểu rõ mọi sự quan trọng khi lâm chung, đều không bi ai gây các việc chướng ngại. Thêm vào, có các thiện hữu khai đạo mọi thứ, và giúp đỡ niệm Phật. Tâm người bệnh ấy, niệm niệm dừng tại Hồng danh A Di Đà Phật, cho tới một niệm niệm Phật cuối cùng khi mạng chung. (NHÂN tự lực NĂNG CẢM) Tùy theo tôn Phật sở niệm (DUYÊN tha lực SỞ CẢM), vãng sinh Tây phương. Đây là quan hệ của NHÂN và DUYÊN đầy đủ.      (*) Lại có một loại người, lúc bình thường, hoàn toàn không biết việc tín nguyện, niệm Phật, cầu sinh Tây phương. Đến khi lâm chung, gặp được thiện hữu khai đạo, hoặc nói về sự vui sướng thanh tịnh trang nghiêm ở Tây phương Cực Lạc Thế giới, khiến tâm người bệnh vui mừng mong cầu, lại nói về công đức bản nguyện tiếp dẫn chúng sinh trong 48 nguyện của A Di Đà Phật, để mong tâm người bệnh sinh chính tín, niệm Phật cầu sinh Tây phương. Người bệnh nghe được, tâm sinh hoan hỷ, tín thụ (tin và đồng ý) niệm Phật, nhất định cầu sinh Tây phương. Những người trong quyến thuộc, đều nghe theo các thiện hữu chỉ dẫn, đều không khóc lóc bi ai gây các chướng ngại. Người này khi sắp mạng chung niệm niệm đều niệm (NHÂN tự lực NĂNG CẢM) Phật (DUYÊN tha lực SỞ CẢM), so với con nhớ niệm mẹ hiền, còn khẩn thiết hơn. Khi mạng chung liền được ơn Phật lực từ bi tiếp dẫn sinh về Tây phương, đây là quan hệ của NHÂN và DUYÊN đầy đủ.

     Phần trên là sự tóm lược nêu lên thời gian lâm chung của ba loại người, tự lực tha lực đầy đủ, từ đó có thể CẢM ỨNG ĐẠO GIAO, NHÂN DUYÊN HÒA HỢP vãng sinh Tây phương. 

     HỎI : Người lúc bình thường hoàn toàn chưa biết tín nguyện niệm Phật, đến khi lâm chung, gặp thiện tri thức khai đạo, sau khi người này được nghe tâm sinh hoan hỷ, tín thụ, phát nguyện, niệm Phật cầu sinh Tây phương, những người quyến thuộc, đều không khóc lóc bi ai gây các chướng ngại, hơn nữa còn giúp đỡ niệm Phật, người này mạng chung, cũng có thể được vãng sinh Tây phương. Làm sao lại có sự tình dễ dàng như vậy được?      ĐÁP : Chao ôi! Sáu đoạn văn ở trên, biện luận về hành nhân lâm chung vãng sinh Tây phương, sự tình dễ dàng và không dễ dàng, đã nói được rất minh bạch rồi, làm sao anh vẫn còn hoài nghi? Phải hiểu được, loại người này bình thường chưa từng tín nguyện niệm Phật, cầu sinh Tây phương, đó là vì duyên cớ không biết. Đến lúc lâm chung, do thiện hữu khai đạo, người đó nghe rồi, tâm liền sinh hoan hỷ, đây là biểu hiện người ấy có thiện căn đời trước. So với những người bình thường nói chung, thì có sự không tương đồng lớn. Lại nữa tâm tín thụ niệm Phật, phát nguyện cầu vãng sinh Tây phương, đây là NHÂN THẮNG (nhân hơn hẳn); thiện hữu khai đạo và những người quyến thuộc, giúp đỡ niệm Phật, đây là DUYÊN CƯỜNG (duyên mạnh mẽ). Lại có nguyện lực từ bi của A Di Đà Phật tiếp dẫn, đây là NHÂN DUYÊN HÒA HỢP. Hành nhân mạng chung, nhất định vãng sinh Tây phương, còn có gì đáng nghi ngờ nữa? 

    HỎI : Mỗi người chúng con hoặc phải vì cha mẹ, những quyến thuộc của mình, khi lâm chung, giúp đỡ niệm Phật, đưa người đó vãng sinh Tây phương. Giả thiết không thỉnh được thiện hữu, người trong  nhà chúng con, đối với đạo lý của Phật pháp, chưa thể hiểu rõ; tuy phải khai đạo người ấy nhưng không biết cách khai đạo, phương pháp trợ niệm cũng chẳng biết. Xin hỏi có kinh sách nào giảng giải về phương pháp trợ niệm, văn tự giản dị rõ ràng một chút, đọc dễ hiểu, dễ học tập, để chúng con thỉnh về học tập, không tốt lắm sao!

     ĐÁP : Các vị nếu thật sự có tâm, muốn thực hành đại đạo, từ bi, hiếu thuận, thân ái, vì cha mẹ, quyến thuộc của mình, vĩnh viễn trừ bỏ đau khổ của sinh tử…, vãng sinh tới Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm ở Tây phương, luôn luôn vui sướng, cho đến viên thành Phật đạo, phổ độ chúng sinh, chỉ cần y theo ý nghĩa các phần trong nội dung sách này thiết thực chấp hành, như thế người lâm chung, nhất định có thể vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới.

 

CÁC VIỆC QUYẾN THUỘC PHẢI CHÚ Ý

(1)             Cha mẹ là đại ân nhân sinh ra, nuôi dưỡng của mỗi người trong chúng ta, cần phải hiếu thuận; anh, em, chị, em, vợ, chồng cần phải thân ái; con trai, con gái, cháu, con dâu cần phải từ ái. Vậy thế nào là hiếu thuận, là thân ái, là từ ái? Thế nào là không hiếu thuận, không thân ái, không từ ái? Với các sự tình này, tất phải hiểu rõ triệt để. Nếu chỉ hiểu qua loa, thì nhất định sẽ khiến tâm hiếu thuận, thân ái, từ ái trở thành sự việc đại ngỗ ngược, đại tàn khốc. Mọi người chúng ta muốn tránh được nguy hiểm này, thì đối với các điều sẽ trình bày ở dưới, tất phải học tập chu đáo.

(2)             Nói chung con người vào lúc lâm chung, là lúc cuối cùng của một đời người. Chúng ta là quyến thuộc, phải dùng hết thời gian ngắn ngủi này, đối với người bệnh, chân thực biểu hiện tâm hiếu thuận, thân ái, từ ái. Thời thời khắc khắc phải chăm sóc tốt. Bất kể việc gì, nhất nhất đều phải tuỳ thuận ý tứ của người bệnh, không thể khiến tâm người bệnh sinh ra mọi phiền não.

(3)             Hễ mạng sống đến lúc lâm chung, nhất định phải thỉnh vài vị đoàn viên của Đoàn Trợ niệm (Phật tử Việt

Nam thường gọi là Ban Hộ niệm) đến để giúp đỡ niệm Phật. Nếu đoàn viên đến nhà chúng ta, toàn gia quyến thuộc vân vân…, tất cả mọi người đề phải nghe theo họ chỉ đạo, không thể làm trái một chút xíu nào. Phải hiểu được đoàn viên của Đoàn Trợ niệm vì sự cứu độ thần thức người thân của ta, vãng sinh Tây phương, cho nên toàn gia quyến thuộc vân vân… chúng ta, từng người đều phải tỏ lòng biết ơn, phải tận tâm chiêu đãi họ. Giả sử đoàn viện trợ niệm bận việc nơi khác, hoặc nhất thời khó mời được, thế thì người nhà quyến thuộc vân vân…, trợ giúp niệm Phật đúng như pháp, thì cũng như nhau.

Nhưng phải thực hành đúng theo phương pháp trợ niệm này, không thể thay đổi phương pháp này chút nào, như vậy nhất định có thể vãng sinh Tây phương. Mà còn phải cả nhà cùng ăn chay, tuyệt đối cấm chỉ sát sinh, tu phúc cho người bệnh. Đến khi cần có người trợ niệm, bệnh tật của người bệnh nhất định là rất nặng rồi, trong thời gian này, nên phải nhất tâm niệm Phật cho người bệnh, giúp người đó vãng sinh Tây phương. Nhất thiết không thể một mặt đòi người trợ niệm, một mặt lại tiêm thuốc kích thích tim cho người bệnh, cho uống thuốc bổ như sâm Cao Ly vân vân…, như vậy tức là càng tăng thêm sự đau khổ cho bệnh nhân, trở ngại sự vãng sinh Tây phương của người ấy, đây là điều đau lòng nhất. Hy vọng rằng là người quyến thuộc, phải hiểu rõ điểm này, không nên làm hại thân nhân của mình.

(4)             Phàm con người đến khi lâm chung, tức là lúc đứng ở ngã rẽ đi Thánh đạo Tây phương, và Lạc đạo của Trời, Người, A Tu La, và Khổ đạo của súc sinh, ngã quỷ, địa ngục. Những người quyến thuộc, nếu giúp đỡ bệnh nhân niệm Phật, vậy tức là đưa thần thức của người ấy vãng sinh Thánh đạo Tây phương hưởng thụ vô lượng diệu lạc; giả sử đối với người bệnh, bi ai khóc lóc hay kêu gào vân vân…, đó tức là đẩy thần thức người đó xuống ba loại Khổ đạo: súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, chịu đau khổ vĩnh cửu. Phải hiểu được là quyến thuộc, tức là phải phân biệt rõ ở điểm này, là hiếu thuận hay không hiếu thuận, là thân ái hay không thân ái, là từ ái hay không từ ái.

(5)             Phải nên tin lời dạy trong Kinh Phật, nếu đọa lạc vào ba ác đạo súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, sự đau khổ phải chịu đựng đó, thật là nói không hết được, thời gian chịu khổ cũng lâu dài như không bao giờ hết. Địa ngục khổ nhất, một ngày một đêm, phải chịu một vạn lần chết, một vạn lần sinh. Sự khổ của ngã quỷ, dài hàng trăm ngàn vạn kiếp, đến danh từ nước tương, cũng không nghe thấy, huống chi là được ăn? Súc sinh cũng khổ, rút ruột mổ bụng, cho người ăn nuốt. Nếu đã đọa lạc vào ba ác đạo này, tối thiểu phải chịu qua năm ngàn đại kiếp. Mỗi đại kiếp, dài lâu bằng 13 ức 4384 vạn năm. Nếu đợi hết tội khổ của năm ngàn đại kiếp này, sau khi chịu hết rồi, mới được ra khỏi, thế thì không biết được là đến bao giờ.

Giả thiết sinh đến Tây phương, mỗi ngày đều được nghe A Di Đà Phật giảng kinh thuyết pháp, cùng Quan Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, làm bạn tốt với nhau, những gì mắt thấy, đều là diệu sắc trang nghiêm, tai nghe được toàn là nhã âm vi diệu, sự hưởng thụ sung sướng đó, thật là nói không hết được. Lại đều đầy đủ đạo lực thần thông, muốn đến, độ hóa quyến thuộc mọi người chúng ta, nói muốn đến liền đến, muốn đi liền đi, đều được tự do như ý. Hơn nữa, một đời có thể thành Phật. Cho nên mỗi người chúng ta, đều phải suy nghĩ kỹ càng, Tây phương kia có sự sung sướng vô cùng vô tận như thế, ai lại không chịu phát tâm giúp đỡ cha mẹ mình vân vân… niệm Phật vãng sinh Tây phương hưởng sung sướng! Súc sinh, ngã quỷ, địa ngục kia có vô lượng vô biên khổ não như thế, ai người chịu dùng tâm độc ác đối xử với cha mẹ của mình…, mà bi ai khóc lóc đẩy họ đọa lạc vào ba ác đạo súc sinh, ngã quỷ, địa ngục? Mỗi người trong chúng ta đều phải hiểu được phàm người lúc lâm chung, hoặc sinh về Tây phương, hoặc đọa lạc súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, trách nhiệm này, quá nửa là ở người làm thân nhân quyến thuộc.

(6)             Phàm bệnh nhân lúc bình thường đã có tâm nguyện niệm Phật cầu sinh Tây phương, đó là điều tốt nhất. Nếu là người không có tín tâm hoặc không hiểu về niệm Phật cầu sinh Tây phương, chúng ta là người quyến thuộc, phải nói rõ ràng với bệnh nhân: “Làm người thì không ai có thể làm người mãi mãi được, có sáu nẻo sinh tử luân hồi. Địa ngục tam đồ thì khổ vô cùng, mà cũng dễ bị đọa lạc vào. Lại nói về Tây phương sung sướng nhất. Trong Tây phương Cực Lạc Thế giới, không có địa ngục ba nẻo, cũng không có sáu nẻo sinh tử luân hồi. Người ở Tây phưong, là sinh ra từ hoa sen, đã được ngồi trong hoa sen, vừa nhu nhuyễn, vừa thơm tinh khiết, vừa lớn, vừa đẹp, vừa sáng sủa. Người ở Tây phương, nơi ở đều là lâu các bằng trân châu bảo bối, vừa cao lớn, vừa mỹ lệ. Người ở Tây phương, muốn ăn thức ăn nào ngon nhất, liền có ngay thức ăn ngon nhất đó. Muốn mặc loại quần áo nào tốt nhất, liền có ngay loại quần áo tốt nhất đó. Các sự sung sướng người ở Tây phương được hưởng, thật là nói không hết được. Ông (bà) nếu phát tâm niệm danh hiệu A Di Đà Phật, tha thiết muốn cầu được sinh về Tây phương, thì đến khi lâm chung, A Di Đà Phật tay cầm một đóa hoa sen lớn, sẽ đến trước mặt ông (bà), đón tiếp ông (bà) vãng sinh Tây phương, sinh đến Tây phương, tức thì có sự sung sướng hưởng không hết. Ông (bà) chịu phát tâm niệm Phật, nhất định có thể vãng sinh Tây phương.” Là người quyến thuộc nói như thế cho bệnh nhân nghe mỗi ngày ba lần, cách nói là, không được gấp gáp, nên khuyên đạo từ tốn bình hòa. Phải hiểu được tâm bệnh nhân. Là dễ bị phiền não nhất, cũng rất sợ phiền não, nếu như bệnh nhân đã tin tưởng rồi, thì không thể khuyên đạo nữa. Sau đó chỉ chuyên khuyến khích người đó nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tây phương là được rồi.

(7)             Phàm người bệnh nếu có việc nhà hoặc các việc cần thiết khác, lúc bình thường chưa thể nói cho quyến thuộc được, người quyến thuộc, tất phải vào khi tâm thức người bệnh còn sáng suốt, còn nói chuyện được, thì hỏi trước cho mọi việc rõ ràng. Nếu tâm thức bệnh nhân đã hôn mê, không nói được nữa, hoặc đã hỏi qua mọi việc rồi, thì không được nhắc tới chuyện nhà, việc thế tình nữa, để tránh làm hỗn loạn chính niệm của người bệnh (chính niệm tức là Phật niệm). Tâm thức bệnh nhân, nếu còn sáng suốt, người trong quyến thuộc, phải nói với người bệnh: “Ông (bà) X à! Tất cả mọi việc của gia đình, chúng tôi đều sẽ gánh vác được, ông (bà) nhất thiết không phải lo lắng gì, hãy nhất tâm nhất ý niệm A Di Đà Phật, cầu sinh Tây phương.” Lời nói này, chỉ có thể được nói một lần, sau đó chỉ một việc nhắc nhở người đó nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tây phương. Đồng thời tự mình dùng ngón tay, chỉ về hướng Tây, nói với người bệnh: “Tây phương ở trước mặt ông (bà), ông (bà) cứ nhất tâm niệm Phật, tự mình nghĩ vãng sinh Tây phương.” Là người quyến thuộc, mỗi ngày nhắc nhở người bệnh vài lần như vậy. Giả sử sau khi tâm thức bệnh nhân đã hôn mê, thì không cần nhắc nhở nữa, chỉ chuyên cao giọng giúp đỡ niệm Phật.

(8)             Nếu có bằng hữu thân thích, đến thăm hỏi người bệnh, là người quyến thuộc, trước hết mời khách tới một gian phòng khác để chiêu đãi, và nói rõ với khách rằng: “Con người lâm chung là sự việc quan trọng nhất.” Lại nói: “Giúp đỡ bệnh nhân niệm Phật, là có ích lợi lớn. Nếu khóc lóc bi ai trước người bệnh, là trở ngại lớn.” Nói qua với người ấy như thế, một mặt tránh cho khách sinh tâm nghi hoặc; mặt thứ hai tránh được khi trước mặt người bệnh, than thở bi ai ảo não, trở ngại chính niệm. Lại phải giúp cho khách cũng trợ giúp người bệnh niệm Phật, vãng sinh Tây phương, như thế tức là thực sự có cảm tình lớn.

(9)             Nếu có người bệnh, nghiệp chướng hiện tiền, không thích có người niệm Phật thay cho mình, chán ghét người niệm Phật, nghe và thấy người niệm Phật, trong tâm thấy khó chịu; hoặc thấy oán hồn hiện ra đòi mạng vân vân… Đây đều là nghiệp chướng của người ấy hiện ra, trở ngại cho sự vãng sinh. Là người quyến thuộc phải đến trước bàn thờ Phật thành khẩn thay người đó niệm Phật sám hối, để nghiệp chướng của người đó tiêu trừ, vãng sinh Tịnh độ. Như năm trước có một vị cư sỹ, mẹ ông ta bị bệnh sắp chết, ông đã thỉnh đoàn trợ niệm đến nhà niệm Phật cho mẹ. Mẹ ông nghe thấy người ta niệm Phật, trong tâm ngược lại cảm thấy khó chịu, kêu đoàn viên trợ niệm không được niệm. Lúc đó vị sư phụ quy y cho ông cư sỹ kia, biết được đây là nghiệp chướng hiện ra, liền thay thế cho mẹ ông niệm vài cuốn Kinh Địa Tạng, vị cư sỹ kia cũng rất khẩn thiết thay mẹ sám hối trước Phật. Về sau, lại niệm Phật thay cho mẹ, mẹ ông liền cảm thấy vui vẻ, cuối cùng, cũng được vãng sinh. Ở trên nói niệm Kinh Địa Tạng có thể tiêu trừ nghiệp chướng, giả sử không thể niệm Kinh Địa Tạng, thì niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ tát, cũng có thể được. Lại có một vị cư sỹ, cha của ông sinh bệnh sắp chết, trông thấy một nữ nhân và một con chó đến đòi mạng ông, vị cư sỹ ấy liền thay cha niệm Phật sám hối, nữ nhân và con chó tức thì không thấy nữa. Về sau cha ông lại thấy hai vị tăng. Hai vị tăng nói với cha ông: “Đời trước ông đã ngăn trở chúng tôi vãng sinh, cho nên bây giờ chúng tôi cũng phải ngăn trở ông vãng sinh.” Vị cư sỹ kia liền thay thế cha sám hối trước Phật lần nữa, và cầu xin hai vị tăng kia, hãy để cho cha ông được vãng sinh. Nếu cha ông được vãng sinh Tây phương, sau này nhất định sẽ trở lại  giúp hai vị tăng cùng vãng sinh Tây phương, để tạ lỗi lầm đã cản trở trong quá khứ. Cuối cùng cha của ông lại thấy một vị lão tăng, nói với ông: “Oán nghiệp của ông đã được tiêu trừ, quá tam thất nữa, thì có thể vãng sinh, vị thứ của ông là cấp thứ năm.” Lại nói: “Gọi là tam thất, con của ông biết.” Mọi người cho tam thất là hai mươi một ngày, trợ niệm quá nhiều ngày đã rất mệt mỏi rồi, nay phải tiếp tục thêm hai mươi mốt ngày nữa, ai nấy cảm thấy rất khổ nạn. Thì ra chỉ qua hai mươi mốt giờ, cha của ông đã vãng sinh, cấp thứ năm đại khái là Trung phẩm Trung sinh. Theo đó thì thấy, là quyến thuộc, thay mặt người bệnh niệm Phật sám hối, hoặc tụng Kinh Địa

Tạng hoặc danh hiệu Địa Tạng Bồ tát vân vân…, đối với người bệnh, là có ích lợi rất lớn.

(10)         Người ta vào lúc sắp tắt thở, những người trợ niệm,  người quyến thuộc vân vân… nếu đông, đều hướng về Phật, hoặc quỳ niệm, hoặc lạy niệm, chí thành khẩn thiết, cầu Phật từ bi, tiếp dẫn thần thức của vong nhân vãng sinh Tây phương; người trợ niệm, những quyến thuộc vân vân… nếu ít, ở gần bên người bệnh giúp đỡ niệm Phật, nhưng đừng đến nhìn trước mặt người bệnh. Phải biết rằng, trong thời gian này, người thân thuộc nhìn nhau, khó tránh được tâm niệm không sinh bi ai, tình ái, trở ngại chính niệm. Thích hợp nhất hoặc ngồi hai bên phải trái, hoặc ngồi mặt sau. Âm thanh niệm Phật, nhất thiết không được bi ai, giống như tiếng khóc, nếu có các tiếng như vậy, người bệnh nghe được, tâm lý nhất định sẽ sinh khởi những niệm bi ai ái luyến, nếu có các niệm như thế, thì sẽ mất chính niệm, chính niệm nếu mất, tức thì vì đó không được sinh về Tây phương. Cho nên trong thời gian này, chúng ta những người quyến thuộc, tất phải đặc biệt cẩn thận, đặc biệt chú ý, tuyệt đối chế ngự, đình chỉ bi ai, mà nên cao giọng niệm Phật, từng câu từng câu niệm cho rõ rõ ràng ràng, từng chữ từng chữ niệm cho rõ rõ ràng ràng. Trong lúc niệm Phật, tâm lý kiêm cả mong cầu lực từ bi của Phật, gia hộ vong nhân, thân tâm an lạc, chính niệm phân minh, mau được vãng sinh Tây phương.

(11)         Phàm người sau khi tắt thở, trước khi thân thể còn chưa lạnh thấu toàn bộ, trong giai đoạn này, những người quyến thuộc chúng ta, càng phải chú ý hơn, nén bi ai, phát tâm cao giọng giúp đỡ niệm Phật. Đồng thời còn phải luôn luôn để ý đến trên mặt hoặc trên thân người chết, không thể cho ruồi muỗi đậu lên. Phải hiểu rằng vong nhân tuy đã ngừng thở, thân thể nếu còn một chút ấm chưa lạnh hẳn, thì thần thức còn chưa hoàn toàn rời khỏi thân, nếu như có vật chạm vào mình, vong nhân tức thì tự cảm thấy đau khổ. Có một số người nghĩ rằng phải luôn luôn sờ vào thân người chết, để biết nơi nào còn ấm, điều này chỉ có hại lớn cho vong nhân, không có một chút lợi nào. Nếu đã qua hơn mười tiếng đồng hồ, muốn biết hơi ấm của vong nhân đã hết hẳn hay chưa, cũng phải thỉnh một người có tri thức tương đối, nhẹ nhàng chậm rãi thám sát. Vào thời gian này, người gia đình quyến thuộc, nhất định đều phải theo chỉ dẫn của đoàn viên trợ niệm, tránh được các sai lầm làm hại cho vong nhân. Nếu không có sự chỉ đạo của đoàn viên trợ niệm, thì phải nhất định theo đúng phương pháp trợ niệm, để thực hành. Cho đến các đoàn viên trợ niệm, cũng phải nghe theo sự chỉ đạo của người lãnh đạo, không thể tùy tiện sờ vào thân của người chết. Nhất thiết không được nghe theo những lời mê tín vô căn cứ của thế tục. Họ nói: “Hễ người đã chết rồi, phải nhân lúc thân thể còn ấm, các khớp xương còn mềm, dễ thay quần áo.” Lại nói: “Nếu người đã chết, không sớm chuyển giường đi, sẽ bị món nợ thiếu giường ngủ cho người đó.” Lại nói: “Phải khóc, nếu không khóc, các hung tinh kia không chịu bỏ đi.” Những lời mê tín này, tương truyền đi, người bị những lời này làm hại, có vô lượng vô biên vong nhân, chịu khổ não lớn oan uổng, đọa lạc vào ba ác đạo súc sinh, ngã quỷ, địa ngục. Thời cổ xưa có một vị vua tên là A Kỳ Đạt, bình sinh tin theo Phật pháp, xây tháp lập chùa, công đức to lớn, đến lúc mạng chung đúng khi tắt thở, viên thị quan phục thị ông ta, vì duyên cớ nhiều ngày thiếu ngủ, chiếc quạt trong tay rơi xuống mặt ông vua, khi đó ông ta cảm thấy đau khổ, tức thì sinh tâm sân hận, khi mạng chung, thần thức liền theo tâm sân hận đó, đi đầu thai làm một con rắn. May là vị A Kỳ Đạt vương này do duyên cớ có công đức lúc bình sinh tín kính Phật pháp, xây tháp lập chùa, về sau gặp được tăng nhân, thuyết pháp cho ông, con rắn này vì công đức nghe Phật pháp, sau ba ngày thì chết, thần thức bay lên trời. Lại chuyện nữa ngày xưa có hai vợ chồng, rất thân ái với nhau, bình sinh cùng tin Phật pháp, phụng trì trai giới. Một hôm vào lúc chồng chết, người vợ khóc lóc bi ai. Chồng bà thân thể tuy chết, thần thức còn chưa rời khỏi thân, nghe tiếng khóc bi ai của vợ, tâm sinh ra niệm tình ái, thế là thần thức liền theo một niệm tình ái này, đầu nhập vào thân người vợ, làm một con sâu trong lỗ mũi. Người vợ kia vì chồng chết, khóc chảy nước mắt nước mũi. Khi đó một con sâu rơi xuống từ trong lỗ mũi, người phụ nữ muốn lấy chân đạp lên con sâu, một vị tăng kêu lên: “Đừng làm hại chồng của bà!” Người phụ nữ kinh ngạc hỏi duyên cớ, vị tăng kia nói: “Chồng bà bình sinh phụng trì trai giới đúng ra được sinh lên trời, vì lý do bà khóc lóc bi ai, chồng bà nghe thấy tâm sinh ái niệm, thần thức liền theo ái niệm đó, đầu thai vào thân bà, làm con sâu trong lỗ mũi.” Người phụ nữ kia tự sám hối, cầu xin vị tăng thuyết pháp cho con sâu nghe, con sâu kia vì được nghe Phật pháp, liền thoát khỏi thân con sâu, thần thức cũng được sinh lên trời. Hai câu chuyện này đều có nói trong kinh, đều có căn cứ. Những lời mê tín hư truyền trên thế tục kia, là không có căn cứ, mọi người chúng ta phải hiểu rõ những lời mê tín đó, tránh cho các vong nhân về sau, lại bị khổ đau oan uổng nữa, đọa vào súc sinh, ngã quỷ, địa ngục oan uổng. Cho nên vào lúc vong nhân sau khi ngừng thở, trước khi thân thể còn chưa lạnh thấu hoàn toàn, những người quyến thuộc chúng ta, nhất định phải đoạn trừ tiếng khóc, và chế chỉ việc đụng chạm vào thân thể người chết, tránh được sự di họa cho vong nhân, không thể vãng sinh Tây phương. Nói chung lại, nhất thiết phải nghe theo sự chỉ dẫn của đoàn viên trợ niệm, nếu không có sự chỉ dẫn của đoàn viên trợ niệm, người quyến thuộc chúng ta phải chậm rãi nhẹ nhàng thăm dò thân thể vong nhân, đợi cho đến sau khi toàn bộ đã lạnh thấu, mới chuẩn bị tắm rửa thay áo. (Phương pháp tắm rửa thay áo, sẽ trình bày trong phần mộc dục canh y sau này).

 

HỎI ĐÁP VỀ TRỢ NIỆM

HỎI : Hai chữ “trợ niệm” ý nghĩa gì?

     ĐÁP : “Trợ” là giúp đỡ, “Niệm” là chính niệm. Ghép hai chữ lại, tức là giúp đỡ người lâm chung, mỗi niệm hiện ra đều là chính niệm.

     HỎI : “Chính niệm” là gì?

     ĐÁP : “Chính niệm” còn gọi là “tịnh niệm”. Chính niệm và tịnh niệm này, đều là tâm niệm niệm Phật. Bởi vì tâm niệm niệm Phật, là chính nhân để thành Phật, cho nên gọi là chính niệm. Lại nữa tâm niệm niệm Phật, không so sánh với lục trần, vì cớ tâm ấy thanh tịnh, cho nên gọi là tịnh niệm. Tịnh niệm này, cũng là tịnh nhân để vãng sinh Tịnh độ. Về ý nghĩa của chữ chính niệm này, đại lược là như thế. 

     HỎI : Người lâm chung vì duyên cớ gì cần người khác trợ niệm?

     ĐÁP : Phàm người đã đến bước ngoặt lâm chung, đó là khi tứ đại tan rã, các khổ giao tập lại, chân tay rối loạn, đau khổ như con cua rơi vào nồi canh đang sôi. Lúc bình thường công phu niệm Phật chưa thuần thục, đến thời điểm này, ai người không cần người khác trợ niệm? Lúc bình thường có được sáu phần, bảy phần công phu niệm Phật, khi đến thời điểm này, cũng khó dùng được hai phần, ba phần. Huống chi người lúc bình thường hoàn toàn chưa có công phu niệm Phật, đến thời diểm này, có thể không cần người khác giúp không? Phải hiểu được người ta vào lúc lâm chung, tự mình khó làm chủ được một chút tơ hào nào. Hoàn toàn dựa vào người khác, giúp đỡ niệm Phật, thay người đó làm chủ mọi việc.

     HỎI : Người bệnh đã chết thật rồi, nhưng vẫn còn giúp người ấy niệm Phật có tác dụng gì?

     ĐÁP : Bởi vì người bệnh vừa mới tắt thở, tuy là đã chết rồi, nhưng thần thức người ấy vẫn chưa hoàn toàn ra khỏi thân thể, đời sau của người ấy được sinh về nơi thiện hay ác còn chưa quyết định, trong lúc này giúp đỡ người ấy niệm Phật, có diệu dụng thù thắng lớn nhất. Phải biết rằng phàm người ta đến lúc lâm chung, tức là đến ngã rẽ đi Thánh đạo, thiện đạo, ác đạo. Chúng ta làm người đời đời kiếp kiếp đến nay, thiện nghiệp và ác nghiệp đã tạo, nhiều vô lượng vô biên, các niệm thiện thiện ác ác  phát hiện ra trong tâm, nối tiếp nhau không ngừng. Đa số đều là tâm niệm ác, tâm niệm thiện thì rất ít. Phàm người vào lúc lâm chung, một niệm cuối cùng của tâm nếu là ác, lúc đó tâm lý ác liền phát hiện các cảnh ác của địa ngục, ngã quỷ, súc sinh; mạng chung một niệm tâm này, liền theo ác cảnh này đi đầu sinh vào ác đạo; tâm của một niệm cuối cùng nếu là thiện, lúc đó tâm lý thiện liền phát hiện các cảnh thiện của trời, người; mạng chung của một niệm này đi theo các thiện cảnh đó, đầu sinh thiện đạo. Tâm của một niệm cuối cùng nếu là niệm Phật, nguyện cầu vãng sinh Tây phương, tâm niệm Phật nguyện sinh Tây phương đó, liền phát hiện Tây phương Cực Lạc Thế giới A Di Đà Phật và chư Thánh chúng, tiếp dẫn ở trước mặt, mạng chung một niệm tâm này, liền theo A Di Đà Phật, vãng sinh lên Thánh đạo của Tây phương Cực Lạc Thế giới. Phải hiểu được rằng người ta khi lâm chung, đạo lý giúp đỡ người ấy niệm Phật, tức là làm cho tâm của một niệm cuối cùng của người chết phải là niệm Phật. Tâm một niệm cuối cùng nếu biết niệm Phật, A Di Đà Phật tức thì ở trong tâm người chết do tự mình niệm Phật, hiện tiền tiếp dẫn, người chết đó, tức thì trong tâm niệm Phật của mình theo Phật vãng sinh Tây phương. Sinh đến Tây phương, cái sinh tử của thế giới Sa bà này liền chấm dứt vĩnh viễn, đó tức là vô lượng sự sung sướng vĩnh cửu. Giúp đỡ người sắp chết niệm Phật, có diệu dụng thù thắng lớn nhất như thế.

NÓI VỀ MỘT NIỆM VÃNG SINH TÂY PHƯƠNG KHI LÂM CHUNG

HỎI : Tây phương Cực Lạc Thế giới, cách xa tới 10 vạn ức Phật độ, tâm một niệm của người niệm Phật khi lâm chung, làm sao có thể sinh tới được?

ĐÁP : Tâm một niệm của người niệm Phật khi lâm chung, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới, vì duyên cớ có ba loại lực lượng bất khả tư nghị dung hợp lại. Một loại là Phật lực, tức là tâm 48 đại nguyện đại từ đại bi của A Di Đà Phật, nhiếp thụ chúng sinh tín nguyện niệm Phật, Phật lực vãng sinh Tây phương bất khả tư nghị. 

     Một loại là tâm lực, tức là tâm một niệm hiện tiền của từng người chúng sinh chúng ta. Đối với tâm một niệm này có ba nghĩa: (1) là tâm thể, bản thể của tâm một niệm này, cùng với chư Phật là tương đồng, không có khác biệt một tơ hào nào. Nhưng chư Phật là thường ngộ không mê, bối trần hợp giác (mang trần thế hợp vào giác ngộ), tâm ấy thanh tịnh, đầy đủ vô lượng công đức trí tuệ. Mọi người chúng ta là thường mê không ngộ, mang giác ngộ hợp vào trần thế, tâm này uế nhiễm, đầy đủ vô lượng phiền não ác nghiệp. Giả thiết mỗi chúng ta nếu có thể phát tâm niệm Phật A Di Đà, đúng ngay lúc đang niệm Phật, ngay đó tức là đã đổi mê về ngộ, bối trần hợp giác.

Nghiệp vô lượng phiền não mê hoặc kia liền hoàn toàn thanh tịnh, trí tuệ công đức vô lượng kia hoàn toàn hiển lộ. Thể trước mắt của tâm niệm Phật này tức thì như chư Phật rồi. Cho nên các bậc cổ đức nói: “Nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.” tức là Thánh nhân cùng phàm phu cùng một tâm thể, là lý do chư Phật cùng chúng sinh đồng một tâm nguyên (nguồn của tâm). Niệm Phật thành Phật, ví như nấu gạo thành cơm, đây là việc đương nhiên. (2) là tâm lượng, tâm lượng một niệm này, rộng lón vô biên. Trong kinh dạy: “Tâm bao Thái hư, lượng chu Sa giới”. Đây tức là tâm lượng quảng đại vô biên. Rộng lớn đến thế nào? Kinh dạy rằng: trong Thái hư, gồm có loại thế giới các Phật sát nhiều như số vi trần không thể nói được, ở giữa có một loại thế giới, tên là Phổ Chiếu Thập phương Xí Nhiên Bảo Quang Minh, loại thế giới này có 20 tầng thế giới, thế giới Sa Bà chúng ta sống này và Thế giới Cực Lạc cách xa nhau 10 vạn ức quốc độ, cùng ở trong tầng thứ 13 của Thế giới Phổ Chiếu Thập phương Xí Nhiên Bảo Quang Minh này. Vậy một loại thế giới lớn như thế, huống chi loại thế giới các Phật sát nhiều như số vi trần? Rất nhiều rất nhiều loại thế giới này, còn ở trong Thái hư, Thái hư còn ở trong tâm lượng một niệm của mỗi chúng ta, điều này có thể thấy tâm lượng một niệm của mỗi chúng ta, thực tại là quảng đại vô biên, cho nên nói rằng tâm bao Thái hư, lượng chu Sa giới. Mọi người chúng ta nếu có thể hiểu tâm lượng một niệm này, quảng đại vô biên như thế, thì tức là với người niệm Phật, tâm một niệm khi lâm chung, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới, tự nhiên sẽ không có lòng nghi hoặc nữa. (3) là tâm đầy đủ (hay tâm cụ), tâm của một niệm này, có đầy đủ 10 loại pháp giới: Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn, Trời, Người, (A) Tu la, Súc sinh, Ngã quỷ, Địa ngục, mà 10 loại pháp giới này, lại là tâm của một niệm này tạo thành công, tâm của một niệm mỗi chúng ta, nếu là tạo 10 ác nghiệp, thế tức là tạo 3 ác đạo súc sinh, ngã quỷ, địa ngục rồi. Tâm của một niệm này của mỗi chúng ta, nếu là tạo 10 thiện nghiệp, tức là đã tạo 3 thiện đạo Trời, Người, Tu La rồi. Tâm của một niệm này của mỗi chúng ta, nếu niệm A Di Đà Phật, tức là đã tạo Phật rồi. Kinh dạy rằng: “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật.” Nói cách khác, thị tâm nếu làm chúng sinh, thị tâm tức là chúng sinh rồi. Cho nên tâm của một niệm của mỗi chúng ta, nếu là niệm Phật, tức là làm Phật rồi. Tâm niệm Phật này, thể của nó tức là Phật, phải hiểu được tâm của một niệm của mỗi chúng ta, vốn có đầy đủ trí tuệ công đức của Phật, tâm của một niệm nếu là niệm Phật, tức là Phật rồi. Đây là đạo lý của tâm đầy đủ, tâm tạo tác. Giả sử mỗi người đều có thể hiểu rõ ý nghĩa này, thì đối với đạo lý niệm Phật tức có thể thành Phật, tự nhiên sẽ không còn sự không tin nữa. Tâm thể, tâm lượng, tâm đầy đủ nói trên, nói ra tuy lý là ba loại, kỳ thực là một chỉnh thể không tách rời được. Tâm của một niệm của tự mỗi người chúng ta, có duyên cớ đại diệu dụng vô cùng vô tận như thế, cho nên mới nói tâm lực của chúng sinh bất khả tư nghị.      Một loại là pháp lực, tức là pháp lực của tín nguyện niệm Phật cảm ứng đạo giao bất khả tư nghị. Hễ chân tín, thiết nguyện, chí thành niệm Hồng danh A Di Đà Phật, thì Phật lực, pháp lực, tâm lực chúng sinh, ba loại lực bất khả tư nghị này, hoàn toàn dung hợp trong một câu Hồng danh A Di Đà Phật rồi. Vì duyên cớ có ba loại lực bất khả tư nghị, dung hợp trong một niệm, cho nên tâm của một niệm khi lâm chung, tức thì được vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới. Cổ nhân dạy: “Hợp ba lực này trong một lúc, thu được thành công trong một niệm.” tức là đạo lý này vậy.

 

                    VÀI ĐIỂM NGƯỜI TRỢ NIỆM PHẢI HIỂU RÕ

(1)             Phát tâm giúp đỡ người khác niệm Phật vãng sinh Tây phương, tức là thay thế Như Lai đảm nhiệm một trách nhiệm lớn hóa độ chúng sinh liễu sinh thoát tử. Chúng ta chấp hành đại sự nghiệp cứu độ chúng sinh này, nhất định phải thiết thực tận tâm hành sự, nhất thiết không được phô diễn cho xong việc, làm lỡ nhân duyên đại sự liễu thoát sinh tử của người ta. Hãy cẩn thận! Hãy cẩ thận!

(2)             Khi đến nhà người bệnh để trợ niệm, đầu tiên phải chiêu tập quyến thuộc, nói rõ cho họ biết rằng con người lúc lâm chung, là bước ngoặt quan trọng nhất để siêu thăng hay đọa lạc, rằng trách nhiệm này hoàn toàn ở toàn gia quyến thuộc các người, các người là quyến thuộc, nếu muốn người bệnh siêu thăng, không bị đọa lạc, thì nhất nhất đều phải nghe theo sự chỉ dẫn của người trợ niệm chúng tôi, không sai trái một chút nào, như vậy sẽ bảo đảm người lâm chung vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới.

(3)             Người trợ niệm vào phòng của người bệnh, thái độ đối với bệnh nhân phải thành khẩn, nói năng phải từ tốn, người bệnh nghe được thấy được, tâm lý sẽ không hoài nghi. Đầu tiên là tán thán các việc thiện đã làm lúc bình thường của người bệnh, khiến tâm người bệnh hoan hỷ; sau đó nói về hàng loạt các pháp thiện diệu, khiến tâm người bệnh sinh niềm an lạc, khởi chính tín cầu sinh Tây phương. Người trợ niệm nhìn người bệnh, phải có ý tưởng xem người đó là thân thuộc của mình, phải hiểu được rằng trong đời này, tuy không phải là thân thuộc thực sự, nhưng hoặc 1 đời, 2 đời, 3 đời trước, cũng đã là thân thuộc, không thể nói là hoàn toàn không có. Người trợ niệm, nếu có thể nghĩ người bệnh là thân thuộc của mình, thì tâm giúp đỡ niệm Phật, sẽ tương đối thân thiết hơn nhiều.

(4)             Trong phòng người bệnh, ngoại trừ việc khai thị đối với người bệnh, còn tất cả mọi người khác đều không được tiếp xúc, nói với người bệnh, cũng không được phép nói các chuyện phiếm lặt vặt trong phòng bệnh, tránh không để người bệnh nghe được bị phân tâm, mất đi chính niệm. Nếu có thân thích hàng xóm tới muốn thăm người bệnh, người trợ niệm phải hỏi họ “Ông (bà) đến để giúp người bệnh niệm Phật phải không?” Nếu trả lời là phải, thì phải nghe người trợ niệm chỉ dẫn, tránh sinh ra trở ngại; nếu không phải đến để giúp đỡ niệm Phật, thì phải lựa lúc nói với người quyến thuộc, đưa khách đến nơi khác để chiêu đãi, tránh cho người bệnh gặp mặt, nảy sinh niệm tình cảm, trở ngại chính niệm. Đây là trách nhiệm tại chỗ của người trợ niệm, không thể sợ khó khăn về tình cảm. Nếu như vì duyên cớ nể mặt nhân tình thế thái, gây trở ngại cho người bệnh làm mất đi chính niệm, không vãng sinh được, đó là làm ngược lại bản hoài độ sinh của Phật, cũng không hợp với tôn chỉ của trợ niệm.

(5)             Niệm Phật hoặc 6 chữ, 4 chữ, hoặc nhanh chậm cao thấp, nhất định đầu tiên phải hỏi ý thích của chính người bệnh. Nếu người bệnh không nói được nữa, thì niệm Phật không thể quá nhanh, nếu nhanh, thì nghe không rõ ràng; cũng không thể quá chậm, nếu chậm, thì khí gấp (hơi thở của người bệnh ngắn) không theo kịp, lại dễ bị hôn trầm; cũng không được cao quá, nếu cao, người trợ niệm, tự mình khó giữ được lâu; cũng không được thấp quá, nếu thấp, nghe không rõ ràng. Cho nên niệm Phật thích hợp nhất là không nhanh, không chậm, không cao, không thấp, từng câu từng câu tách bạch, từng chữ từng chữ thanh thản, khiến người bệnh từng câu lọt tai, từng chữ vào tâm, niệm Phật như thế, mới đúng là trợ niệm. Nhất thiết không được theo ý của mình, người niệm nhanh, người niệm chậm, người niệm cao, người niệm thấp, nếu niệm Phật như vậy, tuy là trợ niệm, mà người bệnh khó được lợi ích gì. Phải hiểu rằng trợ niệm là vì người bệnh khi lâm chung, nguyên khí cực kỳ suy yếu, do đó tự họ không niệm ra được, hoàn toàn dựa vào người khác đem câu Hồng danh A Di Đà Phật, niệm lên được rõ ràng, khiến tâm người bệnh, mỗi niệm mỗi niệm đều quy vào câu Hồng danh A Di Đà Phật. Phải luôn luôn quan tâm tất cả mọi sự việc, không để tâm niệm của người bệnh dao động. Khiến cho chính niệm của người bệnh, từng niệm từng niệm nối tiếp nhau, tâm của một niệm cuối cùng khi mạng chung, theo Phật được niệm, vãng sinh Tây phương. Đây là người trợ niệm chúng ta, đạt được mục đích chân thực của trách nhiệm thay thế Như Lai đảm nhận độ hóa chúng sinh, liễu thoát sinh tử.

(6)             Hoặc khi trợ niệm đã trải qua nhiều thì gian, đột nhiên người bệnh tinh thần khỏe lại hơn trước, cũng có thể nói chuyện hay than vãn, cho đến hoạt động thân thể, các loại tình hình như thế, thì người trợ niệm phải chú ý, nhất thiết không được xem là người bệnh đã khỏe lại. Khi thấy người bệnh có tình trạng này, không quá hai giờ nữa sẽ tắt thở. Ví như một chiếc đèn dầu, dầu từ từ hết, ánh sáng đèn ấy cũng tối dần, đến lúc hoàn toàn hết dầu, ánh sáng đèn ấy đột nhiên sáng bừng, trong khoảnh khắc liền tắt. Phàm người bệnh đến lúc gần tắt thở, nhiều người có tình hình loại này. Thường thường nghe nói: “Trợ niệm nhiều ngày rồi, người bệnh đột nhiên tinh thần tỉnh lại, cũng có thể nói chuyện, than vãn, các loại tình huống. Người trợ niệm không có kinh nghiệm và kiến thức đầy đủ, xem như người bệnh đã khỏe lại, liền ngưng trợ niệm, không quá hai giờ sau đó, người bệnh kia tắt thở.” Cho nên với cảnh giới loại này, người trợ niệm chúng ta, phải tận tâm.

(7)             Người trợ niệm vừa đến, nếu gặp lúc người bệnh vừa mới tắt thở, hoặc đã tắt thở được 1, 2, hay 3 giờ rồi, nếu như có sự tình này, người trợ niệm, nhất thiết không được xem là không cần gấp nữa. Phải hiểu được lúc này, là bước ngoặt khẩn yếu nhất, tốt nhất là phải cao giọng khai đạo một lần, sau đó mới trợ niệm. Bởi vì sau khi người bệnh vừa tắt thở, bất kể là thân thuộc có than khóc không, tâm người đó nhất định là não loạn. Nếu cao giọng khai đạo, tâm của vong nhân, tức thì có thể biết được. Do biết được sự khai đạo: (1) Tâm của vong nhân lập tức có nơi quy y (thanh tướng của Phật hiệu phân minh), sau đó não loạn trở thành chính định; (2) Cũng biết phát nguyện cầu sinh Tây phương (tâm biết vui khi nghe Phật hiệu tức là nguyện sinh Tây phương). Khai đạo nên cao giọng, ngôn ngữ phải giản dị rõ ràng, nói rằng: “Ông (bà, đạo hữu…) X! Các việc thiện, việc ác ông (bà, đạo hữu…) đã làm trong quá khứ, hãy hoàn toàn đừng nghĩ tới nữa; con cháu, tài sản trong nhà, hãy buông xả hết, không thể vương vấn lưu luyến một chút xíu nào,một tâm một ý niệm A Di Đà Phật, cầu sinh Tây phương, mọi người chúng tôi giúp đỡ ông (bà, đạo hữu…) niệm Phật. Tâm của ông (bà, đạo hữu…) hãy chuyên chú nghe mọi người niệm Phật. Từng niệm từng niệm một dựa chắc vào câu A Di Đà Phật, cầu sinh về Tây phương! Tâm của ông (bà, đạo hữu…) hãy chuyên chú nghe mọi người niệm Phật. Từng niệm từng niệm một, dựa chắc vào câu A Di Đà Phật, cầu sinh về Tây phương! (từ “Tâm của ông cho đến cầu sinh về Tây phương” nhất định phải hô hai lần). Sau khi đã khai đạo, lập tức bắt đầu trợ niệm. Từ lúc này, phải cất cao giọng, chuyên niệm bốn chữ Phật hiệu. Nếu như lúc bình thường vong nhân có tâm nguyện cầu sinh Tây phương, nhất định được về Tây phương; nếu lúc bình thường người không có tâm nguyện cầu sinh, thì khi lâm chung, công đức được nghe Phật hiệu cũng bất khả tư nghị. Địa Tạng Kinh dạy: “Người lúc mạng chung, nghe được danh hiệu một Phật, tiêu diệt được 5 trọng tội vào Vô Gián Địa ngục.” Cho nên công đức giúp đỡ người niệm Phật khi lâm chung, thật là lớn vô cùng vậy. 

 

NHÂN QUẢ TỐI THẮNG CỦA NGƯỜI TRỢ NIỆM

     Có nhân tất có quả, có quả tất có nhân. Chúng ta nếu có thể phát tâm giúp đỡ người khác vãng sinh Tây phương, thì tương lai khi chính chúng ta đến lúc lâm chung, tự nhiên sẽ có người phát tâm đến giúp đỡ chúng ta niệm Phật vãng sinh Tây phương. Người khác vì được ta giúp họ niệm Phật mà được vãng sinh về Tây phương, sau này họ nhất định sẽ từ Tây phương theo A Di Đà Phật cùng đến tiếp dẫn, dùng thần lực gia hộ chúng ta, khiến chúng ta không mất chính niệm, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới. Còn nữa, chúng ta thường thường giúp đỡ người khác niệm Phật vãng sinh Tây phương, đối với quan hệ lợi hại lúc lâm chung, hiểu biết được nhất định tỉ mỉ rõ ràng. Sau này đến khi chính mình lâm chung, nhất định có thể vận dụng kinh nghiệm trong quá khứ, khiến mọi việc được như pháp, có thể không sinh ra tất cả các việc không như pháp, sẽ quyết định khả năng vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới.

     Chúng ta phải hiểu được, Như Lai sở dĩ ra đời, tức là vì muốn độ thoát tất cả chúng sinh, khiến mọi người đều thành Phật. Đức Thích Ca Như Lai thuyết pháp 49 năm, là vì việc này; A Di Đà Phật phát 48 đại nguyện, trang nghiêm Tây phương Cực Lạc Thế giới, cũng vì việc này. Tất cả con đường lớn của giáo lý, là dựa vào tự lực mà tu hành, tất yếu người tu hành phải hoàn toàn đoạn trừ phiền não, mới có thể ra khỏi sinh tử, là pháp môn khó làm được. Pháp môn Tịnh độ, là dựa vào nguyện lực tiếp dẫn của A Di Đà Phật, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới, không đoạn phiền não, đường tắt thoát khỏi sinh tử, trong một đời, viên thành Phật đạo, là pháp môn dễ làm. Nay chúng ta giúp đỡ người niệm Phật vãng sinh Tây phương, là thay thế Như Lai đảm nhận trách nhiệm độ thoát chúng sinh. Khiến cho người được chúng ta trợ niệm, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới. Theo pháp môn dễ làm, dựa vào nguyện lực của A Di Đà Phật, rất mau thoát khỏi sinh tử, viên thành Phật đạo, là một công đức lớn nhất. Loại công đức lớn nhất này, tức là NHÂN để THÀNH PHẬT của chúng ta; tương lai chính chúng ta, có thể dựa vào công đức này, cũng có thể vãng sinh Cực Lạc Thế giới, ra khỏi sinh tử, viên thành Phật đạo. Dùng nhân thành Phật, cảm ứng quả thành Phật, đây là đạo lý nhất định.

 

VẤN ĐỀ THANH KHIẾT TRONG PHÒNG BỆNH

     Trong phòng người bệnh, phải quét dọn sạch sẽ, tất cả các vật có thể rời đi được thì tốt nhất là dọn đi hết, một mặt để tránh cho người bệnh bị dao động chướng ngại, một mặt để tránh sự bất tiện cho người trợ niệm ra vào. Nếu tâm thức của người bệnh tỉnh táo, nhất định phải quay mặt về hướng Tây, luôn luôn chỉ đạo cho người bệnh, tâm nghĩ về việc vãng sinh Tây phương, nằm cũng phải dạy cho người đó cách nằm cát tường trên sườn bên phải. Nếu người bệnh bị đau đớn gò bó, tâm không an định, thế thì phải thay đổi. Nếu chính người bệnh biết được như thế nào mới có thể khiến tâm được an định, như thế nào mới có thể khiến chính niệm dễ dàng khởi lên, thì phải tùy thuận theo tâm ý của chính người bệnh.

Trước giường người bệnh, nhất định phải đặt tượng Phật Tây phương tam Thánh, hoặc chỉ một tượng Phật A Di Đà, trước tượng Phật phải cúng dường hương hoa vân vân…, tượng Phật phải hướng về mặt người bệnh, khiến cho tâm người bệnh sinh kính ngưỡng. Giả sử người bệnh có các uế vật đại tiểu tiện, thì sau đó bảo quyến thuộc thay rửa sạch sẽ. Người bệnh nếu sắp đến khi ngừng thở, trên mình nếu có các uế vật đại tiểu tiện, thì không được thay rửa nữa. Chỉ lo phát tâm giúp đỡ niệm Phật, dù cho có uế khí, người trợ niệm phải hiểu rằng, “trợ niệm” là đảm nhận trách nhiệm của Như Lai cứu độ chúng sinh ra khỏi sinh tử, làm sao có thể vì lý do những uế khí này, mà bỏ trách nhiệm của mình được? Nếu nghĩ như thế, tâm tự nhiên sẽ không lo ngại uế khí nữa. Đối với tiện uế trên thân người bệnh nhất định phải đợi đến sau khi tắt thở toàn thân đã lạnh, mới được thay rửa. Tượng Phật cúng ở trước giường không thể khinh mạn mà để uế khí, nhưng vì chiếu cố cho chính niệm của người bệnh lúc sắp tắt thở, mà có tiện uế, cũng không thể thay rửa, sợ lỡ mất vãng sinh đại sự của người bệnh. Việc không thay rửa lúc này, là bất đắc dĩ, tuy có uế khí khinh mạn, mà không có tội.

 

 

                                      = * =   

PHÁ TRỪ NGHI CHƯỚNG

     Tình trạng bệnh của ngưòi bệnh, nếu đã đến mức nặng, phải nhắc nhở người bệnh: “Có còn việc gì vướng mắc nghi ngại không?” Giả thiết trong tâm có nghi ngại, cần phải nhân lúc người bệnh còn nói được, phá trừ nó đi sớm một chút, tránh để chướng ngại cho sự vãng sinh Tây phương. Nếu người bệnh không có gì vướng mắc trở ngại nữa, thì hỏi qua một lần, sau đó không được hỏi lại, tránh cho người bệnh bị phân tâm, đánh mất chính niệm. Xin chú ý! Xin chú ý!

     Nếu như người bệnh còn tâm nghi ngờ nói: “Tự mình phát tâm niệm Phật, thời gian không bao lâu, lại sợ tội nghiệp rất nặng, không hiểu có được vãng sinh về Tây phương không?” Vậy thì người trợ niệm phải nói với người bệnh rằng: “Phát tâm niệm Phật, có thể sớm hay muộn. Điều khẩn yếu nhất là chuẩn mực từ lúc ông (bà) khởi phát tâm đến khi lâm chung bất thoái. Tức là đến khi ông (bà) lâm chung, sau khi chịu theo sự khai đạo của thiện hữu, mới có thể phát tâm niệm Phật, cũng là tốt. Trong kinh Phật dạy: “Người lúc bình thường tạo tội nghiệp thật nhiều thật nặng, đến khi lâm chung,  sau khi chịu sự khai đạo của thiện hữu, mới biết phát tâm niệm Phật, cũng có thể vãng sinh về Tây phương.” Trong kinh Phật lại dạy: “Niệm một câu A Di Đà Phật, có thể tiêu trừ trọng tội của 80 ức đại kiếp sinh tử.” Cho nên phát tâm niệm Phật, tuy chưa bao lâu, hoặc tội nghiệp rất nặng, hoàn toàn không phải nghi tâm, chỉ cần ông (bà) nhất tâm niệm Phật, quyết chí nguyện cầu vãng sinh Tây phương, đến khi mạng chung, nhất định tự mình thấy được A Di Đà Phật đến trước mặt tiếp dẫn, vãng sinh Tây phương không có trở ngại.”

       Nếu như người bệnh luyến ái quyến thuộc và tài sản, thì người trợ niệm, phải nói với người đó: “Người ở thế giới này của chúng ta, là rất khổ sở, già cũng khổ, có bệnh cũng khổ, chết cũng khổ, các loại khổ, thật là kể không hết. Người ở Tây phương Cực Lạc Thế giới là rất sung sướng, mãi mãi không già, sẽ không bệnh, sẽ không chết, các sự sung sướng này, thật là kể không hết. Ông (bà) phải cầu sinh về Tây phương, lại phải độ cho những quyến thuộc của mình cũng được sinh về Tây phương, cùng hưởng sung sướng. Những niệm luyến ái quyến thuộc và tài sản này, thì sẽ trở ngại cho ông (bà) vãng sinh về Tây phương, phải mau mau buông bỏ hết, nhất tâm niệm Phật, để chính mình sinh về Tây phương trước. Nếu đã sinh về Tây phương, thì lập tức có các loại đạo lực thần thông, theo nguyện trở lại độ cho những quyến thuộc này, để ai ai cũng sinh về Tây phương, đều là pháp thuộc của A Di Đà, hưởng sung sướng vĩnh cửu. Từ nay về sau, nếu lại có tâm tưởng về quyến thuộc và tài sản, thì ông (bà) phải tự trách mình rằng: “Thế giới này có nhiều đau khổ thế này, Tây phương kia có nhiều sung sướng như thế, ta vì duyên cớ gì, hãy còn điên đảo thế này, luyến ái thân thuộc tài sản, gây chướng ngại cho chính mình không thể vãng sinh Tây phương, lại làm lỡ quyến thuộc nhiều đời nhiều kiếp, không có ai được độ.” Nếu nghĩ được như thế, sau đó tức thì có thể nhất tâm niệm Phật, vãng sinh Tây phương.”

     Thường người bệnh tâm còn nghi hoặc nói: “Tự mình niệm Phật, làm sao không thấy Phật?” Lại nghi tâm hỏi: “Chính mình đã đến lúc mạng chung, không biết A Di Đà Phật có đến hay không?” Thì người trợ niệm phải nói với người bệnh rằng: “Hiện tại đã được thấy Phật hoặc chưa thấy Phật, đều không có gì quan hệ. Nếu bây giờ còn chưa thấy Phật, đến lúc lâm chung nhất định sẽ được thấy Phật, điều khẩn yếu nhất, tức là chính ông (bà) cầu A Di

Đà Phật này, niệm niệm phải hiện tiền làm chuẩn. Đến khi lâm chung, A Di Đà Phật tự nhiên có ở trong tâm niệm Phật của ông (bà), hiển hiện tiếp dẫn ông (bà), ông (bà) cũng ở trong tâm niệm Phật, theo Phật vãng sinh về Tây phương. Ông (bà) phải lưu tâm niệm Phật, nhất thiết không được sinh tâm nghi ngờ nữa, nếu một khi sinh nghi tâm, tâm của ông (bà) tức thì có cách trở với tâm của A Di Đà Phật, gây chướng ngại cho chính mình không được vãng sinh về Tây phương. Nếu ông (bà) không sinh nghi tâm, cứ nhất tâm niệm Phật, tâm của ông (bà) tức thì cảm ứng đạo giao với tâm của A Di Đà Phật, nhất định sẽ vãng sinh về Tây phương. Không được có tâm nghi ngờ một chút xíu nào. Nên biết rằng thời gian những người lâm chung thấy Phật hiện tiền tiếp dẫn, là có khi sớm có khi muộn. Trường hợp sớm hoặc thấy trước 1, 2 ngày, hoặc thấy trước vài giờ, cho đến vài khắc (mỗi khắc 15 phút), vài phút, không giống nhau; nếu đến muộn phải vào sát na cuối cùng khi hành nhân đoạn mạng căn (khi thần thức đang rời khỏi thể xác), Phật mới ứng niệm hiện tiền (cảm ứng đạo giao), khi Phật hiện tiền, là khi hành nhân kiến Phật vãng sinh Tây phương.”      Hễ người bệnh vào ban đêm hay ban ngày, hay trong định niệm Phật, hay trong mộng, nếu thấy các hình thù quái ác, tâm sinh ra kinh sợ, trở ngại cho chính niệm, thì người trợ niệm phải nói với người bệnh: “Những hình thù, âm thanh quái ác này, đều là các oán gia đã bị ông (bà) giết hại trong nhiều đời. Họ biết được ông (bà) đã phát tâm niệm Phật, quyết định sẽ vãng sinh về Tây phương, cho nên chuyên hiện ra các cảnh giới hung ác, khiến cho tâm của ông (bà) kinh sợ, ngăn trở ông (bà) không thể niệm Phật vãng sinh đó thôi. Tâm của ông (bà) không phải sợ gì nó, không cần nghe nó, chuyên tâm chú ý vào câu A Di Đà Phật, niệm niệm khẩn thiết chí thành, không được gián đoạn một niệm nào. Các ma quỷ oán trái kia, sẽ không có nơi nào dựa vào nữa, liền tự nhiên tiêu diệt mất.”

     Hoặc là thấy quyến thuộc đã chết của nhà mình, như ông bà, hay cha mẹ vân vân… , phải hiểu rằng những ông, bà, cha, mẹ… này đều là quỷ thần trong ba ác đạo địa ngục, ngã quỷ, súc sinh biến hóa ra, lừa ông (bà) đến địa ngục ba ác đạo chịu khổ. Ông bà không cần để ý đến họ, chỉ lo tự mình cầu A Di Đà Phật, niệm niệm không thể ngừng nghỉ, thì quỷ thần đã biến hóa ra cha mẹ… kia, tự nhiên biến mất. Hoặc thấy người cõi Trời, hay Thần đến tiếp dẫn ông (bà) sinh lên trời hay làm thần, ông (bà) nhất định phải cẩn thận, tâm niệm của mình, không để bị họ làm dao động một chút xíu nào, tức là chỉ có Tây phương A Di Đà Phật, hay Quan Thế Âm Bồ tát hay Đại Thế Chí Bồ tát đến tiếp dẫn ông (bà), thì ông (bà) mới đi được. Phải biết  rằng A Di Đà Phật cũng là do tâm niệm Phật của chính ông (bà) sở cảm, tâm của ông (bà) nếu là mỗi niệm mỗi niệm một đều niệm Phật, thì Tây phương A Di Đà Phật kia, tức là ở trong tâm thanh tịnh niệm Phật của chính ông (bà) hiển hiện để tiếp dẫn ông (bà), mà ông (bà) cũng từ trong tâm thanh tịnh niệm Phật của chính mình theo Phật vãng sinh về Tây phương. Xin chú ý! Xin chú ý!

 

SỰ KHAI THỊ LÚC LÂM CHUNG

     Ông (bà) phải biết rằng thế giới này, bất kể người nào, hai sự việc bệnh khổ và chết, đều không tránh được, nếu ông (bà) có bệnh khổ, thì tâm của ông (bà) không thể ưu lo về bệnh khổ, mà phải chuyên tâm chú ý niệm A Di Đà Phật, từng niệm từng niệm một làm cho chính mình theo âm thanh niệm Phật, theo ý tưởng vãng sinh Tây phương, như thế bệnh khổ về sau sẽ nhẹ đi được quá nửa. Người niệm Phật chúng ta, đến lúc lâm chung, bất kể việc gì, đều phải nhất loạt buông bỏ, trong tâm thanh thanh tịnh tịnh, tức là chỉ có một câu A Di Đà Phật, từng câu từng câu rõ mồn một, mỗi niệm mỗi niệm chấp trì  một câu A Di Đà Phật này, giữ niệm bất luận 3 ngày, 5 ngày, 7 ngày vãng sinh đều tốt, ta chỉ có niệm niệm Phật này cầu sinh Tây phương, thuỷ chung không thay đổi. Ông (bà) nếu có thể y theo những lời này của tôi, thì tức là bảo đảm ông (bà) nhất định vãng sinh Tây phương. Nhất thiết không giống như những người không hiểu biết, đến khi lâm chung, kêu cha kêu mẹ, cầu trời, tiên, thần, quỷ phù hộ, đây là sai lầm rất lớn. Phải hiểu rằng người niệm Phật chúng ta lâm chung, bất kể có bệnh khổ hay không, đều phải cầu A Di Đà Phật từ bi, mau đến tiếp dẫn. Trời,  Tiên, Thần, Quỷ kia, tự họ còn ở trong sáu nẻo sinh tử luân hồi, có sức mạnh gì để cứu vớt ông (bà), ra khỏi sinh tử được? Vậy chỉ có A Di Đà Phật từ bi, có 48 đại nguyện và lớp lớp thần thông đạo lực, mới có thể cứu độ được ông (bà), mãi mãi thoát khỏi vòng đau khổ sinh tử. Nếu ông (bà) có tư tưởng cầu Trời, Tiên, Thần, Quỷ phù hộ, hãy mau mau buông bỏ ngay, nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tây phương. Nếu như thọ mạng của ông (bà) chưa hết, niệm Phật có thề tiêu trừ nghiệp chướng cho mình, bệnh cũng được mau lành. Nếu thọ mạng phải hết, ông (bà) cũng nhất định sẽ vãng sinh Tây phương. Giả sử ông (bà) chỉ cầu khỏi bệnh, không muốn cầu sinh Tây phương, thế thì thọ mạng của ông (bà) nếu như đã đến lúc tận, thì cũng không được sinh về Tây phương, hoặc như thọ mạng chưa đến lúc hết, bệnh của ông (bà) nhất thời cũng khó được lành, không chỉ khó lành, lại còn tăng thêm bệnh khổ. Ông (bà) nên hiểu rằng, tất cả chúng ta làm người ở thế giới này, có biết bao nhiêu khổ não không? Nếu được sinh tới Tây phương, thì sung sướng bao nhiêu không? Giả sử ông (bà) có tâm cầu xin Trời, Tiên, Thần, Quỷ phù hộ, thế là ông (bà) có tâm sợ chết, tâm của ông (bà) đã xa cách tâm bản nguyện của A Di Đà Phật, tức là sẽ không sinh về Tây phương, thế là sẽ ở trong bể khổ của sinh tử vĩnh cửu, không có hạn kỳ ra khỏi. Ông (bà) nếu như có tâm sợ chết, phải nên tự trách mình, rằng tôi phát tâm niệm Phật, quyết chí cầu sinh Tây phương, tại sao lại sinh tâm sợ chết này, gây trở ngại cho chính mình không được vãng sinh Tây phương? Từ nay xin khẩn thiết niệm Phật, cầu Phật từ bi mau đến tiếp dẫn. Phải hiểu được rằng khi lâm chung phát ra bệnh khổ, đây là sở cảm của ác nghiệp của ông (bà) từ nhiều đời đến nay, hoặc oán gia bị ông (bà) giết hại từ nhiều đời đến nay, cùng đến đòi nợ, cho nên phát ra nhiều thứ bệnh khổ, khiến tâm ông (bà) sinh ra phiền não, gây chướng ngại để ông (bà) không thể niệmPhật vãng sinh. Ông (bà) nếu như biết rõ ý nghĩa này, thì tâm mình sẽ không bị các loại phiền não chuyển, có thể càng tăng chí thành khẩn thiết niệm Phật, từng niệm từng niệm không phóng túng, toàn tâm dựa vào câu danh hiệu A Di Đà Phật, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới.

 

GIẢI THÍCH HẾT NGHI NGỜ VỀ BỆNH KHỔ KHI LÂM CHUNG

     “Người niệm Phật vào thời gian lâm chung, nếu phát bệnh khổ nặng, nhất thiết không được có tâm nghi hoặc, cũng không nên kinh sợ. Thời xưa Pháp sư Huyền Trang đời nhà Đường, khi lâm chung cũng bị bệnh khổ nặng, huống chi mọi người chúng ta là phàm phu bị trói buộc đủ thứ, làm sao không có bệnh khổ! Phải hiểu rằng những bệnh khổ này, là chiêu cảm của các ác nghiệp từ đời trước của mình, nếu ông (bà) không niệm Phật, những ác nghiệp này sẽ chiêu cảm quả báo nặng ở địa ngục trong đời sau. May được ông (bà) có thiện căn lớn, biết được niệm Phật, nên những ác nghiệp này liền dựa vào sức mạnh từ bi của A Di Đà Phật gia hộ, đem quả báo địa ngục nặng vào đời sau của ông (bà), chuyển thành quả báo nhẹ các bệnh khổ này trong hiện tại. Bệnh khổ là nỗi khổ tạm thời, chịu đựng qua các bệnh khổ này, lập tức sẽ vãng sinh Tây phương, ông (bà) hãy hết sức niệm lên câu A Di Đà Phật này, từng niệm từng niệm phải dựa chắc vào câu A Di Đà Phật này, nhất thiết không để bệnh khổ lấy đi dù một niệm. Ông (bà) phải biết rằng, thời điểm này, là ngã ba đường của sự thác sinh đời sau của mình, hoặc Tây phương hoặc địa ngục, tâm của ông (bà), nếu đi theo bệnh khổ phiền não, tức là bị thác sinh địa ngục, tâm của ông (bà), nếu đi theo Phật hiệu A Di Đà, tức là vãng sinh Tây phương. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận!  Nếu nguyên khí của ông (bà) không đủ, đọc không nổi bốn chữ A Di Đà Phật , thì hãy niệm một chữ Phật cũng được, tâm của ông (bà) mỗi niệm đều phải theo chữ Phật này, tạo ý tưởng tự mình vãng sinh Tây phương. Nếu quả thực vì lý do bệnh khổ quá nặng bức bách, ngay cả chữ Phật này cũng không đọc lên nổi, thì tâm của ông (bà) hãy nghĩ rằng trước mặt mình, chân chân thực thực, đích đích xác xác, có Phật A Di Đà từ bi đưa tay xuống tiếp dẫn mình, tâm của ông (bà) mỗi niệm mỗi niệm tạo ý tưởng tự mình vãng sinh Tây phương, khi mạng chung nhất định tuỳ theo tâm nguyện sinh của mình, vãng sinh Tây phương.”

     Cổ đức dạy rằng: “Lâm chung bất năng quan cập niệm, đán tác sinh ý tri hữu Phật, thị nhân mạng chung đắc vãng sinh, Pháp Cổ Kinh trung như thị thuyết.”      (Giải thích sơ lược): Phàm người khi bình thường tu quan tưởng, quan tượng niệm Phật, chưa được công phu tam muội; phàm người tu trì danh niệm Phật, chưa đạt được công phu nhất tâm bất loạn. Bỗng nhiên tới lúc lâm chung, vì bệnh khổ bức bách, thân tâm không thể an định, cho nên có lớp lớp chướng ngại, quan tưởng, quan tượng đều quan không nổi, trì danh cũng không lên tiếng được. Nếu có thể tưởng được trước mặt mình chân chân thực thực, có A Di Đà Phật từ bi đưa tay xuống tiếp dẫn, mỗi niệm mỗi niệm tạo ý tưởng vãng sinh Tây phương, tâm của một niệm cuối cùng có nguyện vãng sinh, liền theo tâm niệm của một niệm nguyện sinh này, vãng sinh Tây phương. Đây là từ kim khẩu Đức Thế Tôn của chúng ta trong Kinh Pháp Cổ nói lời thành thật, thân tự tuyên thuyết.

           PHƯƠNG PHÁP TRỢ NIỆM

     Đối với việc trợ niệm, trước tiên xem bệnh tình của người bệnh như thế nào? Nếu là bệnh mãn tính, nhẹ, thì khởi đầu niệm một lần bài Tán Liên Trì, một lần Kinh A Di Đà, 3 lần Chú Vãng sinh (tốt nhất là 21 lần) 8 câu Kệ Tán Phật (A Di Đà Phật thân kim sắc), tiếp theo niệm một câu Nam Mô Tây phương Cực Lạc Thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật, 6 chữ Hồng danh Nam Mô A Di Đà Phật niệm vài chục lần, lại chuyên niệm bốn chữ Hồng danh A Di Đà Phật. Nếu bệnh tình khẩn cấp, nặng, thì bắt đầu niệm bốn chữ Hồng danh A Di Đà Phật. Pháp khí để dùng, chỉ có thể dùng khánh, còn mõ thì tiếng quá đục, không thể dùng được. Người trợ niệm, ban ngày chia làm hai ban, ban đêm chia là ba ban, mỗi ban số người tối thiểu là hai trở lên. Hạn định cứ một giờ thì đổi ban. Phương pháp niệm Phật: ban ngày, ban thứ nhất niệm ra tiếng, ban thứ hai mặc niệm, niệm trong một giờ, ban thứ hai cất tiếng niệm, ban thứ nhất mặc niệm, cũng niệm trong một giờ, như vậy luân lưu đổi ban. Ban đêm, ban thứ nhất niệm ra tiếng, ban thứ hai, thứ ba mặc niệm hoặc nghỉ ngơi, niệm trong một giờ; ban thứ hai cất tiếng niệm, ban thứ nhất, thứ ba mặc niệm hay nghỉ ngơi, niệm trong một giờ; ban thứ ba phát tiếng niệm, ban thứ nhất, thứ hai mặc niệm hay nghỉ ngơi, cũng niệm trong một giờ. Như thế luân lưu đổi ban, thì bất kể là ba ngày, năm ngày, bảy ngày, nửa tháng, một tháng, có thể giữ được lâu. Về sự luân lưu ban thứ, từ ban thứ nhất bắt đầu, ban thứ hai, thứ ba theo sau, khi số ban đã hết, lại bắt đầu từ ban thứ nhất, như vậy lần lượt trở lại như lúc đầu, ngày đêm Phật âm nối tiếp nhau. Mỗi ngày ba bữa cơm, đều do người ban dưới đổi ban. Nếu ăn xong mà thời gian tiếp ban chưa đến, cần phải đổi ban nghỉ ngơi, để tinh thần khôi phục.

     Khi trợ niệm, nhất định phải nói với người bệnh: “Ông (bà) nếu biết niệm Phật cùng mọi người, thì ông (bà) hãy cùng niệm với mọi người, nếu nguyên khí của ông (bà) suy yếu, không thể theo được, thì xin ông (bà) lưu tâm chú ý nghe mọi người niệm Phật, thì cũng như niệm Phật vậy. Nhưng tai của ông (bà) nhất định phải nghe rõ rõ ràng ràng, từng câu một từng chữ một, trong tâm của ông (bà) phải nhớ được rõ rõ ràng ràng từng câu một từng chữ một, ông (bà) hãy toàn tâm toàn ý quy nhập vào âm thanh danh hiệu A Di Đà Phật.” Sau khi nói xong như thế, liền bắt đầu trợ niệm. Nếu người bệnh có khi hôn trầm, giống như ngủ thiếp đi, có vẻ không nghe được, thì người trợ niệm trực ban, nhất định phải dùng dẫn khánh, hướng đến gần tai người bệnh, đánh một tiếng, hay nhiều tiếng, đồng thời tiếng niệm Phật cũng phải nâng cao, khiến cho tâm người bệnh, niệm niệm đều không hôn mê.

     Thường người bệnh sắp đến lúc tắt thở, với những người trợ niệm nếu đông, những người trong quyến thuộc tốt nhất là đến trước bàn thờ Phật, hoặc quỳ mà niệm, hoặc lạy mà niệm, đồng thời trong tâm mỗi người, làm A Di Đà Phật, phóng đại quang minh, tiếp dẫn vong nhân, vong nhân ở giữa ánh sáng của Phật, chắp tay mà vãng sinh về Tây phương.  Đến thời điểm này, toàn thề ban trợ niệm, chia làm  hai ban, mỗi ban luân lưu niệm nửa giờ, từ lúc này trở đi, nhất định phải cao giọng niệm Phật. Niệm đến sau khi tắt thở ba giờ, mới lại thay phiên nhau như trước để tiếp tục, cao giọng trợ niệm.

     Khi người bệnh sắp tắt thở, còn chưa tắt thở, người trực ban trợ niệm, cần phải lưu tâm chú ý. Hễ người bệnh ra mồ hôi ở mặt, hoặc mặt biểu hiện ưu lo, đầu, tay, thân, chân bất định, đây là hiện tượng của bệnh khổ. Hoặc như ngủ thiếp đi, bất tri bất giác. Nếu như xuất hiện các tình hình như thế này, thì người bệnh trong lúc bình thường, với công phu niệm Phật, nếu là tầm thường, thì đến lúc này, chính niệm là khó có thể làm chủ được. Vậy người trợ niệm, phải hướng về người bệnh, cao giọng nhắc nhở rằng: “Ông (bà) X! Tây phương sẽ ở trước mặt, A Di Đà Phật tận lực nâng đỡ, nhất định sẽ sinh về Tây phương! Ông (bà) X! Tây phương sẽ ở trước mặt, A Di Đà Phật tận lực nâng đỡ, nhất định sẽ sinh về Tây phương!” Hô liền hai lần như thế, lại nhìn vào môi và hình dung của người bệnh, nếu vẫn như trước không có động tĩnh gì, thì lại hô lên như trước một lần nữa, ( nếu kiến giải của người bệnh sâu sắc, thì sẽ hô “Tây phương là ở trong danh hiệu của A Di Đà Phật”), tồi đa không quá ba lần, sau đó chỉ cao giọng niệm Phật. Phàm sau khi người bệnh tắt thở, trong giai đoạn thân thể còn chưa lạnh hết, người trực ban trợ niệm, cần phải đặc biệt chú ý, tuyệt đối ngăn ngừa việc sờ vào thân thể vong nhân và ngăn tiếng khóc của quyến thuộc, chỉ làm cho mọi người đều phát tâm cao giọng niệm Phật. Phải qua một ngày một đêm mới có thể thỉnh người có trí thức và kinh nghiệm tương xứng, nhẹ nhàng từ tốn sờ thăm thân thể vong nhân, mãi đến khi toàn bộ (thân thể) lạnh hẳn, việc trợ niệm mới được đình chỉ. Tức thì hướng về Phật, thay thế vong nhân hồi hướng, vãng sinh Tây phương. Nếu (thân thể) chưa lạnh hẳn, thì thêm một ngày, hai ngày, ba ngày, mọi người phải phát tâm tiếp tục, cao giọng niệm Phật.

Tất cả mọi người đều phải hiểu được rằng, thay thế Như Lai cứu độ chúng sinh liễu sinh thoát tử, tức là lúc này đây. Tuyệt đối không được vì sự gian khổ trong thời gian ngắn ngủi này, để lỡ mất thần thức của vong nhân, không thể vãng sinh Tây phương. Tất cả mọi người chúng ta nhất định đều phải phát tâm, cao giọng niệm Phật đến sau khi toàn thân vong nhân đã lạnh hẳn, mới được đình chỉ trợ niệm, trợ niệm như thế, là phát bồ đề tâm chân chính, là hành bồ tát đạo, biểu hiện trên thực tế.

 

                                     = * = 

      THỜI GIAN TẮM RỬA THAY ÁO 

     Thân thể vong nhân, sau khi đã lạnh hết, lại chờ thêm hai giờ nữa, mới có thể tắm rửa thay áo. Những khớp xương, nếu đã cứng, có thể dùng vải cũ thấm ướt nước nóng, đắp lên các khớp đó, sau vài phút, thì sẽ trở thành mềm mại. Mắt nếu không nhắm lại, cũng dùng vải cũ thấm nước nóng, phủ lên mắt, sau vài phút, cũng sẽ khép lại được. Về việc mặc quần áo cho vong nhân, tốt nhất là quần áo vẫn mặc lúc bình thường, mặc cho người ấy, quần áo khâm liệm không cần quá nhiều quá tốt. Phải hiểu được rằng yêu mến vong nhân, tốt nhất là làm cho người ấy vãng sinh Tây phương, được đại an lạc. Chỉ có việc làm cho vong nhân vãng sinh Tây phương, mới thực sự được tính là hiếu thuận, là thân ái, là từ ái. Nếu chỉ mong cầu được đẹp mặt, chỉ muốn người khác khen ngợi, tất cả chỉ là  trang điểm cho bộ mặt, mà nhất định phải hậu liệm, hậu táng, phát tang lớn, hoàn toàn không chiếu cố đến ích lợi chân thực cho vong nhân, đây là sai lầm rất lớn.

 

BIỆN PHÁP TỐT NHẤT ĐỂ  TIẾN DẪN VONG

     Sau khi vong nhân sinh về Tây phương, đối với việc tiến vong, nên lấy việc niệm Phật ăn chay là chủ yếu. (Phải giới rượu, thịt, cá, chất tanh), nếu muốn công đức lớn, lại tiết kiệm tốn kém về đạo tràng, tốt nhất là thỉnh vài vị tăng ni đến giúp đỡ trợ niệm. Số ngày nhiều ít, phải xem tình hình kinh tế của mình như thế nào để quyết định. Về việc niệm Phật tiến vong, tốt nhất là người trong gia đình quyến thuộc tham gia được nhiều, vì quyến thuộc có quan hệ tình cảm, niệm Phật so với người khác thân thiết hơn. Niệm Phật bất kể là tăng nhân xuất gia, hay tục nhân tại gia, nếu có tâm khẩn thiết chí thành, công đức sẽ lớn.  Công đức niệm Phật mỗi ngày, ở trước linh (vị) thay cho vong nhân hồi hướng vãng sinh Tây phương. Vong nhân ấy nếu đã sinh về Tây phương, cũng có thể được tăng cao phẩm vị liên hoa; nếu chưa vãng sinh, cũng có thể vì sức mạnh công đức niệm Phật này, cũng được vãng sinh Tây phương.

     Người thế tục, đại đa số đều xem việc tụng kinh, bái sám, ngã quỷ vân vân… là lạ lùng, niệm Phật là việc tầm thường, đó đều là những người không hiểu Phật lý, trong Quan Kinh nói: “Niệm một câu A Di Đà Phật, có thể trừ trọng tội của 80 ức đại kiếp.” Ai dám bảo niệm Phật là tầm thường ? Lại nữa trong kinh văn về Hạ phẩm thượng sinh của Quan Kinh nói: “Nghe được tên của 12 bộ kinh, tiêu trừ ác nghiệp cực trọng của một ngàn kiếp, niệm một câu danh hiệu A Di Đà Phật, tiêu trù tội sinh tử của 500 vạn đại kiếp.” Lại nói:“ Chỉ nghe danh hiệu Phật A Di Đà, tiêu trừ tội sinh tử của vô lượng đại kiếp.” Đây là những lời dạy trong kinh có căn cứ có chứng minh, không phải lời nói xuông. Như vậy so sánh, thì có thể hiểu được công đức niệm Phật là lớn nhất. Những pháp sự như tụng kinh, bái sám, ăn chay (diệm khầu:quỷ đói) vân vân, nếu có tâm chí thành , công đức cũng rất lớn, đáng tiếc người thời nay, tâm chí thành rất ít, Tổ sư Ấn Quang nói: “ Tăng nhân ngày nay, nhiều người làm qua loa cho xong việc, không được như pháp, chỉ mong hình thức dễ coi, theo đuổi khuôn sáo trống rỗng, giả sử chuyên môn niệm Phật, thì ai ai cũng niệm Phật, công đức vừa lớn lao, vừa thiết thực. Nếu đem công đức niệm Phật, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh, cùng sinh về Tây phương, thì công đức càng lớn thêm nhiều nữa, ích lợi vong nhân thu được, cũng lớn hơn nhiều.”

     Sau khi vong nhân sinh về Tây phương, gia đình quyến thuộc, trong vòng 49 ngày, phải nên ăn chay niệm Phật, tịnh thủ năm giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu và không ăn ngũ tân, tức là năm loại rau cay: hành, hẹ, tỏi, riềng, nén), thì người sống và vong nhân, hai bên đều được lợi ích lớn. 

 

                       HỎI ĐÁP VỀ TRUNG ẤM

HỎI : Phàm người sau khi chết, gia quyến ấy trong bảy bảy 49 ngày phải ăn chay niệm Phật, là ý nghĩa gì?

ĐÁP : Vong nhân nếu đích xác là đã sinh về Tây phương, gia quyến ấy trong 49 ngày ăn chay niệm Phật làm công đức cho vong nhân: một mặt có thể nâng cao phẩm vị Liên hoa cho người ấy; mặt thứ hai mỗi người trong gia quyến được phúc đức vô lượng. Giả sử chưa được vãng sinh Tây phương, tuy là đã chết rồi, vẫn còn chưa quyết định sẽ đi về đâu sinh về đâu, thì nhập vào thời kỳ trung ấm. Khi đó gia quyến vì người ấy niệm Phật, làm các công đức, khai phát thiện căn tịnh độ của người ấy, để người ấy ở trong trung ấm, sinh ra tín nguyện niệm Phật cầu sinh về Tây phương. Chỉ cần gia quyến và người ấy cụ túc tịnh độ tam tư lương, nhất định có thể được nhờ ơn Phật tiếp dẫn, vãng sinh Tây phương.

HỎI : Trung ấm nghĩa là gì?

ĐÁP : Một người đã chết, sau khi thần thức người đó thoát ra, còn chưa đi đầu sinh, ví như một người ra khỏi căn phòng này, mà chưa đi vào căn phòng kia, còn ở trung gian, đây là ý nghĩa của trung ấm. Người niệm Phật chết rồi đáng được vãng sinh Tây phương, hoặc thiện nhân lên thẳng cõi trời, ác nhân xuống thẳng địa ngục, các loại người này không trải qua trung ấm. Người bình thường, tức là không phải cực ác, lại không phải cực thiện, đều phải qua thời kỳ trung ấm. Trung ấm đi thụ sinh, nhanh thì chỉ bằng thời gian gảy móng tay, tức thì đi theo các hướng thiện hay ác trong lục đạo, chậm thì hoặc đến 49 ngày, nhưng không quá 49 ngày. HỎI : Bình thường người sau khi đã chết, tại sao không thể đi đầu sinh, phải qua 49 ngày, mới đi đầu sinh, đây là duyên cớ gì?

ĐÁP : Vì duyên cớ vong nhân qua nhiều đời đến nay các nghiệp thiện ác đã làm còn chưa quyết định. Vọng tâm của vô minh nghiệp thức, một niệm thiện tâm, một niệm ác tâm, sinh mà diệt, diệt mà sinh, nghiệp thiện ác thường chưa định được. Nếu thiện nghiệp định được, thì tâm kia cực thiện, thì do trong tâm thiện, phát hiện các cảnh giới thiện của trời, người, Tu la, thức tâm kia liền theo thiện cảnh của trời, người, Tu la đi đầu sinh. Bởi vì thiện tâm, cũng có duyên cớ thượng phẩm thiện, trung phẩm thiện, hạ phẩm thiện, sở cảm kia mới có sự khác nhau của ba loại thiện đạo là trời, người, Tu la. Nếu ác nghiệp định, tâm kia cực ác, thì do trong tâm ác phát hiện các cảnh giới ác đạo của súc sinh, ngã quỷ, địa ngục, thức tâm kia, liền theo ác cảnh của súc sinh, ngã quỷ, địa ngục đi đầu sinh. Bởi vì ác tâm, cũng có duyên cớ thượng phẩm ác, trung phẩm ác, hạ phẩm ác, sở cảm kia mới có sự khác nhau của ba loại ác đạo là súc sinh, ngã quỷ, địa ngục. Phải hiểu được rằng vì có mối quan hệ như thế, cho nên người gia thuộc kia trong vòng 49 ngày, tất phải ăn chay niệm Phật, thay thế vong nhân làm công đức,khiến cho vong nhân dựa vào sức mạnh của công đức ăn chay niệm Phật này, tiêu trừ tội ác, tăng trưởng phúc thiện, vãng sinh Tây phương, hoặc siêu thăng thiên đạo hay nhân đạo. Giả thiết gia thuộc không ăn chay niệm Phật làm công đức, trái ngược làm lung tung các việc sát sinh, tà dâm, ác nghiệp, lại ăn uống bừa bãi rượu thịt cá chất tanh, thì túc nghiệp của vong nhân kia, vốn là thiện, cũng có thể mất, chuyển thành ác nghiệp; nếu túc nghiệp vốn là ác, thì ác nghiệp kia lại thêm ác nghiệp nữa. Phải biết rằng trên ác nghiệp lại thêm ác nghiệp, tức là thượng phẩm ác nghiệp rồi, thế thì nhất định phải đọa địa ngục, chịu sự đại thống khổ lâu dài. 

HỎI : Nếu người nhà nghèo khổ khó khăn, trong vòng bảy bảy 49 ngày, ăn chay niệm Phật, lại làm công đức, thì sinh hoạt của họ, làm sao có thể duy trì được?   

ĐÁP : Làm công đức tức là công đức niệm Phật là lớn nhất, nếu đời sống gia đình khó khăn, thì không phải thỉnh các tăng ni, tức là tự toàn gia quyến thuộc ăn chay niệm Phật, công đức là lớn nhất. Thời gian niệm Phật mỗi ngày, quy định sáng sớm niệm Phật xong, thì hướng về linh vị của vong nhân hồi hướng, sau đó mới ăn sáng. Buổi trưa niệm Phật trước hoặc sau khi ăn, xem công việc của mình có trở ngại hay không mà quy định, buổi chiều sau bữa ăn, mới niệm Phật, niệm xong hồi hướng trước linh vị, quy định mỗi ngày ba lần niệm Phật, ba lần hồi hướng, thời gian khác trong khi làm việc, trong tâm và khẩu cũng mặc niệm Phật hiệu. Phương pháp niệm Phật độ vong như thế, về mặt kinh tế lại rất tiết kiệm, phương pháp lại giản tiện, sẽ không trở ngại sinh hoạt, công đức lại lớn, gia đình cũng có thể được bình an tốt lành, người người trong quyến thuộc được phúc, vong nhân cũng được ích lợi rất lớn, đây là phương pháp tốt nhất để hai phía người sống và người chết đều được lợi ích.

 

  DẪN CHỨNG YẾU NGỮ CỦA

“PHẨM LỢI ÍCH TỒN VONG TRONG

KINH ĐỊA TẠNG” LÀM LỜI KẾT

     Trưởng giả Đại Biện chắp tay cung kính hỏi Địa Tạng Bồ tát rằng: “Đại sỹ! chúng sinh ở Nam Diêm Phù Đề, sau khi mạng chung, quyến thuộc lớn nhỏ, vì tu công đức, cho đến thiết trai tạo các nhân thiện (niệm Phật ăn chay giữ giới cúng dường Tam Bảo vân vân…), thì người mạng chung, có được ích lợi lớn, và được giải thoát (khỏi sinh tử) không?” Địa Tạng đáp rằng: “Trưởng giả! Chư chúng sinh của vị lai hiện tại vào ngày mạng chung, được nghe một Phật danh, một Bồ tát danh, một Bích chi Phật danh, không hỏi có tội hay vô tội, đều được giải thoát (vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới).” Lại nói: “Đại quỷ vô thường, bất kỳ mà đến (ý nói bất đắc kỳ tử), thần thức lang thang trong âm phủ tối tăm, chưa biết tội phúc, trong bảy bảy (49) ngày, như ngu như điếc, hoặc ở tại nơi các quan biện luận nghiệp quả, sau khi thẩm định, theo nghiệp thụ sinh, khi chưa tính xong, đã ngàn vạn sầu khổ, huống chi phải theo các ác thú. Là người mạng chung, chưa được thụ sinh, trong vòng bảy bảy (49) ngày, mỗi niệm mỗi niệm, chỉ mong những quyến thuộc cốt nhục, tạo phúc lực cứu bạt cho. Sau những ngày này (bảy bảy 49), theo nghiệp thụ báo, nếu là người có tội (tội thường, nhẹ), thường phải qua hang ngàn lần 100 năm, luôn phải ở trong ba ác đạo địa ngục, ngã quỷ, súc sinh để chịu khổ), không có ngày giải thoát, nếu là ngũ vô gián tội (trọng tội), phải đọa xuống đại địa ngục ngàn kiếp vạn kiếp (mỗi đại kiếp bằng 13 ức 4 ngàn 4 trăm vạn năm của nhân gian), chịu đựng các khổ lâu dài.” Lại nói: “Nếu có thể lại vì sau khi thân đã chết, trong bảy bảy (49) ngày, tạo các thiện rộng rãi (niệm Phật, ăn chay, giữ giới, cúng dường Tam Bảo vân vân…), có thể khiến các chúng sinh này, vĩnh ly ác đạo (địa ngục, ngã quỷ, súc sinh) được sinh về cõi trời, người, hưởng vui sướng tốt đẹp, quyến thuộc hiện tại, ích lợi vô lượng.”

 

               HỎI ĐÁP PHỤ LẦN THỨ HAI

HỎI : Có người bình thường tín nguyện niệm Phật, mà khi lâm chung trúng gió mất tiếng, thần thức hôn mê, trợ niệm cho người ấy, có còn tác dụng không? Nếu có tác dụng, người này thần thức đã hôn mê, bất giác bất tri, tác dụng ở đâu? Nếu không có tác dụng, thì công đức người đó khi bình thường tín nguyện niệm Phật,  không phải là phí công ư?

ĐÁP : Công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn được. Nếu có người bình thường tín nguyện niệm Phật, mà khi lâm chung trúng gió mất tiếng, thần thức hôn mê, nếu gặp được thiện hữu, vì người ấy trợ niệm, thì người ấy được lợi ích, cũng khó nghĩ bàn . “Nếu thần thức người ấy chưa rời khỏi thân thể, có sự tỉnh trở lại nghe được âm thanh niệm Phật, thì có thể phát khởi tâm tín nguyện niệm Phật của lúc bình thường, đến khi mạng chung, tất được ơn Phật lực tiếp dẫn vãng sinh Tây phương không nghi ngờ gì!” Nếu hôn mê cho tới chết, thần thức rời khỏi thân thể, vì nghiệp chưa quyết định người đó đi về đâu, nên phải trải qua thân trung ấm, trong thời gian của trung ấm, được quyến thuộc hay thiện hữu niệm Phật giúp cho, người chết lúc đó tức thì có thể nhớ được tâm tín nguyện niệm Phật của lúc bình thường, mà được ơn Phật tiếp dẫn vãng sinh Tây phương vậy. Nếu không được như vậy, nhưng có Thắng Duyên niệm Phật của các thiện hữu, dù không được vãng sinh, cũng có thể tăng thêm thiện căn tịnh độ cho đời sau. Trong kinh có ghi: thời Đức Thế Tôn có một ông già gặp hổ (cọp), trèo lên cây để trốn, vì sợ hãi, đã niệm một tiếng “Nam Mô Phật”, vì thiện căn đó, về sau gặp Phật và được độ. Huống chi người bình sinh đã sớm tín nguyện niệm Phật? Quan sát như thế, đủ biét công đức niệm Phật, tuyệt không bị mất.

HỎI : Người điếc khi lâm chung tuy có người trợ niệm mà không nghe được tiếng niệm Phật, vậy trợ niệm có tác dụng gì?

ĐÁP : Người điếc vì nghiệp đã tạo về nhĩ căn ở đời trước, nên phải nhận quả báo này. Người điếc tuy không thể nghe được tiếng niệm Phật, nhưng khi lâm chung có người trợ niệm, cũng được vãng sinh. Vì sao vậy? Người điếc tuy khuyết mất nhĩ căn, nhưng tính nghe (văn tính) không mất. Chỉ cần người đó tự tâm thanh tịnh tỉnh táo, tín nguyện kiên cố, nhất ý (một lòng) cầu sinh Tây phương, thì khi mạng chung tất cảm ứng được Phật đến nghênh tiếp. Lại có thiện hữu vì họ trợ niệm, đem tâm lực bất khả tư nghị của chúng sinh, công đức bất khả tư nghị của Hồng danh Di Đà, thì người đó vãng sinh Tây phương, nhanh như thuận gió căng buồm, khinh xa tựu lộ vậy! Hoặc là người này khi lâm chung, tai đã điếc để trả quả kiếp trước, tai của kiếp sau thì chưa sinh ra, duy chỉ có thức thứ tám có tác dụng, người này khi còn sống, vì bị nghiệp chướng, không có nhĩ căn nên không có nhĩ thức, đến lúc này, quả trước đây đã trả, nên thức thứ tám tự nó có thể nghe có thể hiểu có thể biết vậy.

 

                                                   LỜI BẠT

     Kinh dạy rằng: “Rời khỏi ba ác đạo, để được thân người là điều khó.” Nay lại tiến thêm một bước. Chúng ta tuy có được thân người, thọ mạng khó giữ được tới trăm năm. Tức là thân sắc tứ đại này, cuối cùng cũng tan diệt. Duy có một niệm thức thần, lại theo nghiệp duyên đi thụ sinh. Như người mắc nợ, chủ nợ mạnh kéo đi trước. Dù cho khi còn sống lực của thiện nghiệp mạnh, kiêm tu giới định. Sau khi chết thác sinh thiên đạo, thọ mạng vạn kiếp. Đến khi hưởng hết thiên phúc, lại phải đọa lạc, cuối cùng vẫn không phải là cứu cánh. Đức Phật nhập diệt, thời gian trong Thánh đạo đã lâu. Chúng sinh đồng luân đa số cấu ô chướng ngại sâu nặng, căn cơ cạn mỏng. Tuy có diệu lý của Thiền giáo, khó có thể tu tập. Dù có thể tu tập, cũng khó thu được quả chứng. Tuy muốn liễu sinh thoát tử, siêu phàm nhập Thánh, làm sao có thể được? Vì thế Phật dạy trong Đại Tập kinh: “Thời mạt pháp triệu triệu người tu hành, khó được một người đắc đạo, duy chỉ có niệm Phật là được độ.” Quan sát điều này có thể thấy Thích Ca Như Lai, ba ngàn năm trước đây, đã tiên tri dự kiến, tâm từ bi, thương xót chúng sinh triệt để, trong giáo nội tam thừa phổ thông, lại nói riêng về pháp môn Tịnh độ phổ bị cho cả ba căn (thuợng, trung, hạ), dạy chung cho chúng sinh, để phát tâm tu tập; hoặc chuyên tu diệu quan, hoặc chấp trì Phật danh (niệm Phật), cho đến tuỳ sức mà tu các công đức, phát nguyện hồi hướng Tây phương, khi lâm chung được Phật tiếp dẫn, đều được vãng sinh Lạc Bang. Hóa sinh trong hoa sen, được thọ mạng vô lượng, từ đó mà tiến tu, vĩnh viễn không thoái chuyển, thẳng tới thành Phật sau này. Pháp môn vi diệu thù thắng, thẳng nhanh vững vàng như thế, được gọi là phương tiện trong phương tiện, đường thẳng của đường thẳng. Từ xưa đến nay, tu pháp môn này, người được vãng sinh, tính đếm nhiều đời, khó biết số lượng.

     Hoặc có người niệm Phật chưa được vãng sinh, đều vì có riêng các loại nhân duyên chưa đủ, cùng các sự sai lầm, khiến họ mê mất chính niệm, bị ngăn cách với Phật, không được vãng sinh, chẳng phải Phật không tiếp dẫn; hoặc vì bình sinh, tuy đã phát tâm niệm Phật, chỉ mong cầu phúc, không hiểu phải phát nguyện cầu được sinh về Tây phương, hoặc lúc bình thường tín nguyện không được chân thiết, niệm Phật không hằng thường; hoặc vì khi lâm chung, thiếu bạn trợ niệm thanh tịnh, hộ trì đúng như pháp; hoặc vì bạn trợ niệm thanh tịnh, những người xung quanh nói chuyện tạp loạn, khiến tâm người đó phiền chán bất an; hoặc vì thân bằng quyến thuộc khóc lóc bi ai, tình cảm bịn rịn, khó dứt khó xả; hoặc vì khi sắp chết, mời bác sỹ tiêm thuốc, mong người ấy sống lại, khiến chịu đau khổ; hoặc vì sau khi tắt thở, thân chưa lạnh hẳn, thức chưa đi hết, người sống lấy tay liên tục sờ nắn, xem xét sự ấm lạnh của người chết; hoặc vì mới chết nhân lúc cơ thể còn nóng, tắm rửa thay áo cho người ấy, miễn cưỡng xoay trở thân xác. Các loại nhân duyên chưa đủ kể trên, và các sai phạm, đều có thể làm người ta mê mất chính niệm, không được vãng sinh. Hễ là người niệm Phật, thì đều phải biết điều này. Trước kia có sách “Sức Chung Tân Lương”, giảng giải rất kỹ, nhưng vì văn ý quá sâu sắc, người trí thức nông cạn khó mà hiểu được. Năm qua các Pháp sư Tây Chấn ở Ôn Châu, đã đặc biệt thỉnh cầu Pháp sư Thế Liễu, dùng văn tự bạch thoại rõ ràng dễ hiểu, viết thành một cuốn sách khác, đặt tên là “Sức

Chung Tu Tri” (tạm dịch là Những Điều Cần Biết Khi Lâm Chung), ý rất đầy đủ rõ ràng. Viết xong, lại thỉnh Hòa Thượng Diệu Công ở Hoằng Hóa Xã, hiệu chính  xếp in, và viết lời tựa. Bản đầu in hai ngàn cuốn, chưa kịp tặng hết, đã có nhiều người thích đọc. Nay trù tính sự tái bản, có thư xin lời bạt, tự thẹn mình không có văn chương, chẳng thể bổ trợ được, chỉ đem các sự thật bản thân thấy nghe trong mấy chục năm, lược thuật lại vài điều, viết để chứng minh, để người đọc sách này, thâm tín không nghi ngờ, truyền tụng cho nhau, để cùng tránh mọi ngộ nhận sau này.

     @ Tôi nghe được trước đây có một vị cư sỹ, tên là X, thời nhà Thanh lúc đầu làm Phủ Đài ở Giang Tô, về sau phát tâm xuất gia. Trú trong một miếu nhỏ, ở gần Linh Nham. Vợ ông ta, cũng rất tin Phật. Thường đến cúng dường, khuyên ông về nhà. Nói rằng: “Nay đã xuất gia, ông là bồ tát rồi, nên độ chúng sinh, không nên tu riêng mình. Nếu ông về nhà, tất cả mọi nhu cầu, tương đối thuận tiện, xin nguyện phụng sự hết.” Vì bị năn nỉ nhiều lần, khó khước từ hậu tình. Lại thêm thôn quê không yên ổn, sợ bị nhiễu hại, thường cảm thấy bất an. Có mối nguy hiểm này, cuối cùng đã về nhà. May được vợ chiếu cố đáp ứng chu toàn. Khiến được an tâm niệm Phật. Một hôm ông nói với vợ rằng: “A Di Đà Phật, đã đến tiếp dẫn tôi, tôi phải về Tây phương đây.” Người vợ lạy ông, khóc và nói: “Bồ tát, nay ông ra đi, bỏ tôi ở đời, biết dựa vào ai.” Bỗng bị tình ái của vợ lôi kéo, khó thoát khó rời. Khiến ông ta lúc đó mê thất chính niệm, cũng rơi nước mắt. Khi quay lại nhìn Phật A Di Đà, thì không thấy nữa. Việc này hồi đó nghe cư sỹ Hồ Tùng Niên, chính miệng kể cho tôi vậy.

     @ Lại nghe sư Thường Thanh ở Hồ Quan, tự thuật rằng cha của ông ăn chay nhiều năm. Nhưng tuy phát tâm niệm Phật, chỉ vọng cầu phúc, không biết phát nguyện cầu sinh Tây phương. Năm Thanh 9 tuổi, cha qua đời, gia thuộc lau rửa thay áo cho ông, nhưng chưa liệm quan. Ngày hôm sau chị của cha (là bác gái) đến, khóc bên tai ông, Thanh thấy nước mắt chảy ra ở hai mắt cha. Quan sát hai điều này, có thể biết người chết mới chết, hay sau khi chết thân thể chưa lạnh hẳn, thức chưa đi hết, quyến thuộc đều không nên hướng về người chết mà khóc, để tránh sự bịn rịn tình ái, khiến người ấy mê thất chính niệm, không được vãng sinh. Nếu không nén được, cũng nên tránh đi nơi khác, hãy cẩn thận đừng tiếp cận. Nhân duyên vãng sinh Tây phương này, trăm ngàn vạn kiếp, khó mà gặp được, cực kỳ quan trọng. Là quyến thuộc, nếu chịu phát tâm niệm Phật thay cho người ấy, giúp người ấy vãng sinh, ly khổ đắc lạc, đó là chân hiếu của xuất thế gian, cũng là hiếu của thế gian, không có gì bằng.

     Lại nói thêm về hỏa táng sau khi chết, trong sách chưa đề cập đến. Vì việc hỏa táng, kể cả cư sỹ, cũng thường thấy có, hàng tỷ khưu, càng không phải nói. Tại các chủa lớn, hỏa táng cho vong nhân, đa số hạn định bảy (7) ngày, ngoài ra các am miếu nhỏ, đều không nhất định, thậm chí có khi buổi sáng chết, buổi chiều hỏa thiêu. Vậy nên nói rõ, để tránh phạm sai lầm nhiều, nay xin luận riêng. Người chết, có sự khác nhau về tính chất của trời lạnh trời nóng, nếu gặp trời lạnh, trong vòng bảy ngày, vẫn chưa đổi màu, vì thế chưa đủ bảy ngày đã thiêu, sợ người đó còn biết đau khổ, nên đợi đủ bảy ngày. Nếu gặp trời nóng, sau 1, 2 giờ, các lỗ (khổng) chảy máu, nếu qua bảy ngày, thối rữa không chịu được. Dựa vào đây, tuy chưa đủ bảy ngày, thiêu cũng không biết đau khổ. Tôi còn nhớ thời mới xuất gia, tại Long Phụng Nham, Quảng Xương, Giang Tây, có vị Viên Minh Thượng Nhân, viên tịch vào ngày X tháng 4 năm X. Các sư lau rửa thay áo cho ông ngay lập tức, đặt ngồi ngay ngắn trên ghế. Đồ đệ của ông là Thánh Kim, xem lịch nói: “Hôm nay thày ta hóa thân là tốt.” Sau khi ăn trưa, khiêng cả ghế đến lò hóa thân, lập tức nổi lửa thiêu hóa. Thời gian ấy gặp lúc tôi qua chùa Đại Thừa, một số ngày mới về, nghe được rằng đúng lúc đang hỏa thiêu, thấy hai tay ông ta từ từ giơ lên cao. Về sau ở chùa Thừa Ân Nam Xương, vào buổi chiều ngày 15 tháng 8 năm X, có một vị tỷ khưu tên là X viên tịch. Vị sư giám viện là Hiền Mậu, khi đó lấy ván gỗ, đóng cho ông ta một chiếc quan tài, lại thêm củi và than, cùng vị tỷ khưu kia, cùng đặt vào trong quan tài, xong rồi đóng lại, buổi tối chia các ban thay nhau niệm Phật. Hôm sau ăn cháo sớm xong, cúng lễ hoàn tất, khiêng quan tài ra bãi đất hoang ngoại thành để hỏa hóa. Tôi cùng đại chúng, đưa tiễn đến cổng thì quay về, sau này nghe vị sư giám viện nói: “Đúng lúc đốt lửa, thấy hai tay của ông ta, đột nhiên hướng ra hai bên quan tài, đẩy bung ra một lượt, nghĩ rằng chắc còn thấy đau khổ.”      Quan sát hai điều này, có thể biết nếu không gặp khi trời nóng, chưa đủ bảy ngày, đem thiêu sẽ còn biết đau khổ. Không chỉ không vãng sinh được, sợ người chết khởi một niệm sân hận, khiến bị đọa xuống ác đạo, hễ là người có tâm từ bi, ai không thương xót lo âu.      Lại khi ở núi Bách Trượng, gặp một vị tỷ khưu, tên là Đức Nhược. Ông tự kể rằng “năm ngoái, tôi ở am Tảo Lâm tại Lê Xuyên, bị bệnh nặng, đã chết qua một lần, nhờ ơn các vị sư lau rửa thay áo cho tôi, đặt tạm trên giường, ngày đêm chia phiên niệm Phật. Ngày hôm sau, tôi đột nhiên tỉnh lại.” Tôi hỏi: “Ông thấy cảnh giới gì?” Đáp rằng: “Tôi biết một người, một mình đi thẳng ra bờ sông. Chợt nghe tiếng hô hoán: “Quay lại, đừng đi.” Tôi vì thế mà tỉnh lại, Khi đó các vị sư, còn đang niệm Phật cho tôi, thấy tôi hồi dương, ai nấy đều vui mừng. Cho tôi biết: “Ông đã chết một ngày một đêm, tự mình có biết không?” Lại nữa khi ở núi Phật Đính, Phổ Đà, nghe được chuyện vị sư Duy Sùng ở núi Liên Hoa, Ninh Đô, Giang Tây, (bình thường người ta gọi ông là Ma Vương) vào tháng 10 năm X, đã chết sáu (6) ngày. Lúc đầu sắp xếp đúng theo ý muốn tại liêu phòng, để đó ba ngày. Sau đại chúng đưa vào lò thiêu hóa, đóng cửa lại, để trong ba ngày, đến nửa đêm ngày thứ sáu, Duy Sùng ở trong lò, đột nhiên hồi dương, không ai biết cả. Ngày thứ bảy, vị sư Thông Tuệ vân vân… có nhiệm vụ nổi lửa thiêu ông ta, cùng nhau đến lò hóa thân, đang định đốt lửa. Bỗng nghe tiếng kêu ở trong lò: “Tôi chưa chết, không được thiêu.” Các vị sư nghe sợ hãi nói: “Ma Vương ơi, ông đừng hù dọa người nữa.” Duy Sùng đáp: “Thày Thông Tuệ, tôi thực chưa chết, còn chưa thiêu được.” Mọi người nghe thấy, liền mở cửa lò. Dìu ông về chùa điều dưỡng, không lâu sau thì phục hồi sức khỏe. Bảy năm sau, tháng 6, Duy Sùng mới đích thân đến lễ ở Phổ Đà, tôi được ông ta lên núi viếng thăm. Tôi đem việc trên ra hỏi, ông nói rằng: “Tất cả đều đúng như vậy.” Tôi hỏi: “Ông thấy cảnh giới gì?” Đáp rằng: “Thấy một cái cổng lớn, nhiều người đi vào, tôi cũng theo họ mà đi vào. Thời người giữ cổng, cầm roi cản tôi, không chịu cho vào. Tôi mới đột ngột kinh hãi tỉnh lại, lúc đó cảm thấy lưng rất lạnh. Lấy tay rờ rẫm xung quanh, đều thấy ván gỗ, lại sờ xuống dưới, toàn là củi cứng, mới biết đang ngồi trong lò thiêu hóa thân. Nhờ ơn các thày đỡ về, tự hổ thẹn hãy còn các khổ chưa thụ nhận hết vậy.” Quan sát hai điều này, có thể biết nếu không phải trời nóng, người chưa đáng chết, trong vòng bảy ngày, Âm Ty thả về, có thể phục sinh. Nghe rằng sau khi Duy Sùng hồi dương, sống thêm 10 năm nữa. Nếu như hỏa thiêu sớm, trở về cũng uổng công, không đáng sợ ư? Tóm lại toàn bộ sách đều nói về việc cuối cùng của hành nhân, không câu nệ hay dở, đều phải phải nên biết, nên đặt tên là “Những Điều Cần Biết Để Sửa Soạn Cho Sự Lâm Chung”. Nếu có thể nhìn tên nghĩ đến nghĩa, dựa theo pháp mà làm. Đến mức các vị niệm Phật trong tương lai, người người thoát ly Sa bà, đồng sinh về Cực Lạc.  Thực không phụ Pháp Sư Thế Liễu, một tấm lòng từ bi để viết ra vậy. 

 

Phật lịch 2982, ngày Thánh Diên Bồ tát Địa Tạng, 

Tháng 7 năm Ất Mùi

Ăn nhờ trai tăng ở Linh Nham,

Liễu Nhiên cẩn bạt tại Bất Thoái Quan Phòng,

Trân Đào Viên, Phật Hải Tuyền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

= * =

 

 

 

 

 

MỘT SỰ KIỆN LỚN NHẤT

CỦA ĐỜI NGƯỜI

 

 

 

 

 

DƯ THIỆU PHA 

bổ sung và hiệu đính

 

 

     Người đời ngộnhận bệnh nhân ngừng thởtức là chết, gây nên di hại cho bệnh nhân phải chịu đau khổcực kỳ lớn. Trên sựthực bệnh nhân sau khi tắt thở, vì tâm linh còn chưa ra khỏi thân, không những còn trong trạng thái di lưu tri giác, mà đây còn là thời khắc đau đớn nhất. Vì thếbản văn này đưa tới độc giảnhững điều thường thức liên quan đến trước và sau khi lâm chung của bệnh nhân, ghi lại nhưlời kêu gọi thếnhân coi trọng một sựviệc lớn tối hậu của đời người. Tất cảphải vì người lâm chung mà suy nghĩ, làm việc có ích cho người chết. Bao trùm thời khắc này là then chốt của giải thoát, trói buộc của nghiệp, thăng, trầm, khổ, lạc. Bèn biên soạn văn bản này, gọi là “thuỷchung nhưnhất” vậy.

 

                       Biên giả Kính thức

 

 

 

 

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu…………………………………………..86

Hô hấp tuy đình chỉ, thần thức chưa rời khỏi 

thân hình…………….………………………………88

Thuyết minh về thần thức rời khỏi thân hình 

khi nào ………………………………………………90

Thần thức ra khỏi thân thể đi về đâu………………...92

Những nhận thức mà người bệnh phải có…………...93

Những nhận thức mà gia thuộc phải có……………..97

Các việc cần cải tiến cấp thiết của nhà quàn……….102

Hỏa táng nên cử hành sau 7 ngày ………………….106

Phải dặn dò ý định của mình

cho gia thuộc từ trước ………………………………107 Nhân tự lực và duyên tha lực ………………………107

Kết luận ……………………………………….……110

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

     Người là do thân thể và tâm linh hòa hợp mà thành, tâm linh là cái bất diệt, thân thể là vật chất, như nhà cửa, như máy móc, vạn vật có thành, trú, hoại, không, thân thể có sinh, lão, bệnh, tử. Tâm linh rời khỏi thân thể, nhiệt độ tiêu mất, mạng căn đoạn tuyệt, nói là tử vong, thực tại chết là thân thể, tâm linh không hề có sự chết. Có thể khi sự thở và mạch đập của người bệnh ngừng lại, tâm linh quyết không đồng thời rời khỏi thân thể. Vậy thì sau khi người bệnh tắt thở, khi nào tâm linh rời khỏi thân thể? Người nhanh nhất thì đi ngay lập tức, người chậm nhất có thể kéo dài 1, 2 ngày. Trên thực tế, nhanh nhất và chậm nhất thì cực kỳ thiểu số, theo tình hình chung mà nói, phần lớn từ 10 đến 12 giờ, thì sẽ rời khỏi cơ thể. Lại có sự việc sau tắt thở, trong một số ngày, có người chết rồi sống lại, có hai nguyên nhân của nó: thứ nhất, tâm linh chưa rời đi, thứ hai, là đi rồi mà trở lại. Dựa trên sự thực nói trên, cho nên đối với đại sự lâm chung, phải hết sức cẩn thận. Người đời ngộ nhận bệnh nhân ngừng thở và ngừng mạch đập, là đã chết, tức thì làm mọi việc chuẩn bị trên tử thi, dẫn đến di hại thống khổ cực kỳ lớn cho bệnh nhân. Vì thế văn bản này đề cập đến những thường thức của sự lâm chung, để kêu gọi nhân sỹ xã hội sự coi trọng vào lúc trước và sau khi lâm chung của bệnh nhân.

     Tâm linh là cái bất diệt, gia quyến nên coi trọng mặt tâm linh của người lâm chung, nên như thế nào mới khiến tâm linh không đau khổ, nên như thế nào mới khiến tâm linh an tĩnh, nhu cầu của tâm linh là gì, nên dẫn đạo tâm linh đi về hướng nào, nên thế nào có thể khiến tâm linh có lợi, thế nào là có hại, các loại vấn đề gia dĩ coi trọng. Thế nhân tuy có trí tuệ cao độ, nhưng đối với đại sự tối hậu của kiếp người là sự lâm chung, vẫn giữ kiến giải “hô hấp đã dứt, tức là chết rồi, tức là đoạn diệt, đã chết là xong, tuân theo lẽ tự nhiên đó.” Chỉ tính toán làm sao có bề mặt phù phiếm không có gì tốt cho người chết, mà mặc nhiên không nhìn đến các vấn đề thực tế này trên phương diện tâm linh của người chết. Vì sai lầm về nhận thức và sai lầm trên hành động, mà dẫn đến người lâm chung chịu oan sự bi thảm cực đại, người sống cũng hồ đồ không biết, đây không phải là sự bất tri sao?

     Không biết được rằng sự hô hấp và mạch đập của bệnh nhân đã ngưng rồi, mà tâm linh (cũng gọi là thần thức) vẫn chưa đi ra, không những còn ở trạng thái di lưu có tri giác, sự cảm thụ về tâm thức của nó, giống như rùa sống bị lột mai, đau khổ vô cùng. Vì thế trước khi thần thức ra khỏi, nên chăm sóc đặc biệt, phải giúp cho bệnh nhân thực hiện sự chia tay lâu dài với thế gian (như làm di chúc…), để có thể có sự bình tĩnh và an ninh đầy đủ. Cho nên không thể di chuyển, động vào (cơ thể) ngay, không thể khóc lóc, để tránh cho thần thức người bệnh bị kích thích, mà tăng thêm sự đau khổ. Đồng thời cũng phải chiếu cố vấn đề thần thức đi về đâu.  Hay là chịu để thần thức kia tuỳ theo nghiệp lực thiện ác mà chịu sự khổ của thăng trầm lưu chuyển?  Hay là dẫn dắt thần thức ra khỏi tam giới mà được sự an lạc của giải thoát tự tại? Nhưng đều là những điều thế nhân coi thường. Thế nhân không biết là thần thức chưa đi, không biết thương cảm nỗi đau khổ của người chết, không biết làm mọi việc để cứu độ, không biết việc phải giám thị trước khi khâm liệm, mà làm các việc không nên làm, các việc nên làm thì không làm, có thể nói là điên đảo bất trí. Đối với vấn đề lớn nhất của sự chết, quy về thái độ gác lại coi như xong, cam tâm gây nên sai lầm lớn, làm sao không thấy sợ hãi được! Vì thế văn bản này là lời kêu gọi trung thực khẩn thiết: “Chết” là một sự việc lớn cuối cùng của đời người, chỉ có cách dựa vào Phật pháp, mới có được nhận thức chính xác nhất, mà có lợi ích triệt để cho người chết. Các vị nhân sỹ nếu có chỗ hoài nghi, thì nên thân cận thỉnh giáo vài vị pháp sư giảng kinh, không những có thể giải được mối nghi, mà còn tăng tiến về nhận thức, tín tâm được kiên cố vậy. Việc liên quan đến sự lợi hại thiết thân của người bệnh, có thể không thận trọng được sao? Vậy nay xin trình bày những điểm trọng yếu ở trước và sau lúc lâm chung.

 

MỘT SỰ VIỆC LỚN NHẤT  CỦA ĐỜI NGƯỜI

 

HÔ HẤP TUY ĐÌNH CHỈ,  THẦN THỨC CHƯA RỜI KHỎI THÂN HÌNH

 

     Sau khi người bệnh tắt thở, do thần thức chưa rời đi, vẫn tiếp tục có tri giác. Phải trải qua một thời gian, toàn thân lạnh, thần thức ra khỏi, thọ, sức ấm, thức đều rời khỏi thân thể, mới coi là chết. Sau khi tắt thở, trước khi thần thức đi khỏi, là thời khắc tâm linh đang rất đau khổ. Có nguyên nhân cảm thương chuyện đã qua mà rơi lệ, cũng có nguyên nhân tham luyến tình ái thế gian: như con cháu tài sản mà khó cắt khó bỏ, hoặc có nguyên nhân tâm nguyện chưa xong đột nhiên bị chết mà bi thương khổ não, lại có nguyên nhân oan khuất chưa giải được mà chết không nhắm mắt được, vì thếvào thời khắc này, chính là sự giao tập của bi ai thống khổ. Nếu lại bị di động, lại nghe tiếng khóc, làm sao không khiến cho tâm linh sẽ đi sắp đi, nhận sự kích thích cực đại, người sống có nhẫn tâm làm hại như thế không? Thế nhân không biết, cho rằng tắt thở là chết rồi, hoàn toàn vì sự hiểu sai này mà tạo nên sai lầm lớn, gia thuộc của người bệnh và các con trai con gái hiếu thuận, không thể không biết vậy.      Nói về  các  hành động sai lầm nói chung, chỉ cần bệnh nhân vừa tắt thở, lập tức liền khóc lóc bi ai, hoặc vỗ lên bệnh nhân mà gào khóc, hoặc tuỳ ý dọn dẹp phòng ngủ của người ấy, hoặc nhân lúc thân thể chưa lạnh làm các việc lau rửa thay quần áo, hoặc tiêm thuốc cường tâm, hoặc tiêm thuốc phòng hư thối, hoặc vừa tắt thở lập tức bị đưa vào nhà xác, hoặc bị đưa đến nhà quàn ngay trong ngày. Hoặc có người qua 2, 3 ngày liền làm lễ hỏa táng. Những hành động tàn nhẫn này, đối với các bệnh nhân thần thức chưa đi vẫn còn có tri giác, có thể coi là chịu thảm độc hết mức rồi. Những việc người sống làm, thực di hại cho người lâm chung không ít, sẽ khiến cho người chết đau khổ đọa lạc, yêu mến thành ra làm hại, đây là điều đáng sợ nhất.

     Không biết là thần thức chưa đi, sự đau khổ nó phải cảm thụ, không khác gì người thường. Người thường còn có thể kêu cứu, có thể chống lại. Trong giai đoạn này bệnh nhân tuy đã tắt thở mà thần thức chưa đi, cứ cứng rắn như đối xử với một tử thi, chỉ khiến bệnh nhân chịu đau khổ cực lớn một cách oan uổng, mà miệng không thể mở ra kêu được. Vì không hiểu các thường thức của sự lâm chung, mà dẫn đến nỗi bi thảm như thế, lẽ nào không đau lòng!

     Bệnh nhân vì chịu đau khổ mà tâm sinh ra sân hận, vì tâm sân hận mà khiến thần thức đọa lạc vào ác đạo, tuy hiếu tử hiền tôn cũng không biết gì cả.

     Vì thế xin kêu gọi thế nhân, trong khoảng sau khi bệnh nhân tắt thở, trước khi thần thức ra đi, giả định là 10 đến 12 giờ, trong khoảng thời gian này, phòng người bệnh nên duy trì sự yên tĩnh, không thể có các hoạt động nêu ở trên, làm hại đến thân bệnh nhân, để giữ gìn bảo vệ cho thần thức được yên lành và an toàn. Tư thái nằm ngủ của bệnh nhân, không được can thiệp để mặc tự nhiên, không được di động. Về sau có thể dùng khăn thấm nước nóng lau lên các khớp xương, để chúng mềm đi. Trong thời gian này, không được thăm dò sự ấm lạnh của người ấy, không được cho ruồi muỗi đậu vào, trong phòng bệnh không được nói chuyện hay than thở. Phải lợi dụng 10 đến 12 giờ này, làm sự cứu độ hữu hiệu, dẫn đạo thần thức người bệnh đi về hướng tiền đồ sáng sủa, vãng sinh Thánh cảnh vĩnh hưởng an lạc. Đây là trách nhiệm duy nhất của gia thuộc, cũng là hiếu đạo duy nhất của người làm con.

 

THUYẾT MINH VỀ THẦN THỨC

RỜI KHỎI THÂN HÌNH KHI NÀO

 

      Thần thức ra đi chậm nhanh, có quan hệ trực tiếp, với phẩm đức hành vi khi còn sống của người bệnh. Nói một cách đơn giản, thì người cực thiện, hay cực ác, cho đến người được vãng sinh về Thánh cảnh, đều được đi nhanh nhất, người bình thường nói chung, đi tương đối chậm. Thí dụ: trung với quốc gia, hiếu dưỡng cha mẹ, nhân từ không sát sinh, lợi người giúp đời, những loại người này, vì duyên cớ chính khí bay lên, trực tiếp sinh về thiện đạo (thiên đạo, nhân đạo), cho nên được đi nhanh. Lại như: gian hiểm âm độc, cùng hung cực ác, ngỗ ngược bất hiếu, sát nghiệp quá nặng, những hạng người này, vì duyên cớ tà khí chìm xuống, trực tiếp sinh vào ác đạo (súc sinh đạo, ngã quỷ đạo, địa ngục đạo), cho nên đi cũng nhanh. Người nhất tâm niệm Phật nhờ ơn Phật tiếp dẫn vãng sinh về Phật Tịnh độ, hoặc người tu thiền đã chứng vô sinh xuất tam giới, trong đó có những người biết trước thời gian đi, thân không có bệnh khổ, an tường niệm Phật hoặc nhập định mà đi, đương nhiên được lên hưởng Thánh cảnh, đi càng nhanh hơn. Người bình thường không phải là đại thiện hay đại ác, thì đi chậm, nhưng thời gian sớm muộn mỗi người mỗi khác, cho nên tất phải giả định từ 10 đến 12 giờ vậy. Từ sau khi thân đã chết, thời kỳ quá độ đến trước khi nhận quả báo đời sau, gọi là thân trung ấm. Có người trong 1, 2 ngày nhận quả báo sinh đời sau, có người trong 1, 2 tuần nhận quả báo sinh đời sau, lâu nhất là bảy bảy 49 ngày quyết định thụ sinh.

     Tức là nói một cách tượng trưng, nơi đi cuối cùng (trên thân thể), thì lạnh cuối cùng, nhưng hết sức tránh thăm dò ấm lạnh. Gọi là 10 đến 12 giờ, là nói dựa trên tình hình chung. Nhưng lại phải xem khí trời và địa phương có thích hợp hay không, để ước lượng tính khả năng, đem thời gian hoặc rút ngắn một giờ, hoặc kéo dài hơn một giờ, đều là điều có thể xảy ra.   

THẦN THỨC RA KHỎI THÂN THỂ 

ĐI VỀ ĐÂU

     Không gian không có biên giới gọi là vũ, thời gian vô cùng vô tận gọi là trụ. Trong khoảng vũ trụ không biên giới, không cùng tận, tất cả mọi cảnh giới mà tất cả tâm linh cảm thụ được, cũng là vô lượng vô tận. Nói một cách khái quát, có thể chia làm 10 loại giới vực (khu vực), 4 loại là cảnh vực của Thánh giả, 6 loại là cảnh vực của phàm tục. Tâm thể của 10 loại cảnh vực này là như nhau, chỉ lấy sự khác nhau của mê, ngộ, nhiễm, tịnh, mà hình thành sự sai biệt giữa thánh, phàm, giải thoát, hay nghiệp trói buộc. Gọi tên là pháp giới duy tâm là vậy. Điều này nói lên rằng là thánh, là phàm, hoặc hưởng niềm vui giải thoát tự tại, hoặc chịu khổ do nghiệp chướng trói buộc, đều do tự tâm tạo ra, tâm tự làm chủ tể, tức là nói duy tâm sở tạo vậy. Nhưng mà thời mạt pháp này, nếu người hoàn toàn dựa vào một đường tự lực chứng ngộ mà lên Thánh vực, triệu người tu hành khó được một người ngộ. Chúng sinh ngày nay, si ám mê nhiễm, hư vọng điên đảo, nghiệp nặng phúc nhẹ, chướng ngại sâu dày, trí tuệ nông cạn. Làm sao không sinh tử trôi lăn mãi mãi trong tam giới? Đức Thế Tôn Thích Ca vì thương xót chúng sinh thời mạt pháp, đặc biệt phương tiện, nói rõ pháp môn niệm Phật giản dị nhất, vững chắc nhất. Rằng ở Tây phưong có Phật, danh hiệu A Di Đà, lấy hoằng nguyện lực, vô luận người thượng trí kẻ hạ ngu, thiện lương tà ác, các hạng người, chỉ cần có thể hồi đầu hướng thiện, chân tín thiết nguyện thành khẩn xưng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, (Nam Mô ý là quy mạng đính lễ),nhất tâm nhất ý cầu sinh về Tây phương Cực Lạc Thế giới. Khi mạng chung, Phật và Thánh chúng, liền đến tiếp dẫn. Trong khoảnh khắc của một niệm, liền được vãng sinh Phật quốc, hóa sinh trong hoa sen, thọ mạng vô lượng, vĩnh viễn xa rời sự khổ phải lưu chuyển trong sinh tử, hưởng thụ an lạc thắng diệu trang nghiêm. Vì thế gọi là phương pháp cứu độ trước và sau khi lâm chung, nên vào lúc sinh mạng gần nguy cấp, ngoài sự không di động không than khóc ra, gia thuộc và thân hữu, trong phòng người bệnh giữ yên lặng không ồn, để tâm cảnh người đó bình tĩnh, thanh tịnh, phải đồng thanh xưng niệm A Di Đà Phật, để dẫn thần thức của bệnh nhân, nghe được danh hiệu Phật, sinh tâm hoan hỷ, trong tâm cũng niệm Phật theo, người bệnh liền có tâm cảnh khai sáng, có cảm giác an toàn, nhất tâm cầu sinh Phật quốc, vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới.

NHỮNG NHẬN THỨC  MÀ NGƯỜI BỆNH PHẢI CÓ

     Nhất thiết thế gian hết thảy vạn tượng, đều vì có nhân duyên mà sinh ra, theo huyễn hóa mà có. Gọi là nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh, nhân duyên chia tay thì hư vọng gọi là diệt. Duyên tụ thì huyễn hữu, duyên tán thì huyễn vô. Vì thế từ xưa tới nay hết thảy sự vật, không gì không phải là trăng dưới nước hoa trong gương, nhanh như mộng huyễn bọt nước, đều là lửa đá điện chớp, cũng như mây khói tan nhanh. Thân như bọt trôi nổi, huyễn chất không vững bền, già yếu bệnh chết, khổ không vô thường, đây là con đường biến dịch sinh diệt tất nhiên, đi qua nhanh không một sát na ngừng lại. Nên con đường của đời người, cũng tự tất phải có chặng cuối cùng của nó, không ai có cách gì được may mắn thoát khỏi, thế giới đúng như một khách sạn, ta chỉ là khách nghỉ tạm chốc lát mà thôi.

     Đời người vài chục năm, không ngừng bươn chải trong cảnh nhọc thân lao tâm vì danh lợi vật dục, được mất, khốn cùng, thông suốt, bi hoan ly hợp, oán tắng hội, ái biệt ly, thiên tai nhân họa, đời sống đè nén, phiền não ưu lo, mà còn phải đời này qua đời khác, xả thân thụ thân, nhân quả xoay chuyển, trường kiếp trôi nổi, xuất hiện mất đi trong tứ sinh, trầm luân ngũ thú, sống chết như trong mộng, vạn nỗi khổ dồn dập, hư thụ như thế thân tâm đại khổ, mà không biết được.

     Phải nhớ rằng mọi pháp có trong thế gian, đều là cái bị sinh diệt vô thường, đều là mộng huyễn không thật. Lại nghĩ đến sự khổ của ba ác đạo, dễ vào khó ra, nhân đạo thì ác trọc, thiên phúc thì dễ hết, nhưng bị sự lôi kéo của nghiệp quả, thật khó tránh được. Nếu như lại sa vào tam giới, tức là thụ sinh tử uổng công, luân hồi trong vô minh. Nên quay phắt đầu lại ngay, đem hết thảy việc nhà, tất cả việc ngoài thân, đều buông bỏ hết, không thèm để ý, không sinh tâm vấn vương thương nhớ, mà nhất tâm nhất ý niệm A Di Đà Phật, cầu sinh về Tây phương Cực Lạc Thế giới. Niệm niệm không buông thả, khi mạng chung, tất định cảm Phật tự thân xuống tiếp dẫn, tức thì theo A Di Đà Phật và Thánh chúng đến đón, trong khoảnh khắc của một gảy móng tay, vãng sinh về Phật quốc Di Đà thanh tịnh. Từ đó siêu phàm nhập thánh, thần thông tự tại, thọ mạng vô lượng, ra khỏi tam giới, liễu thoát sinh tử, là người đại trí tuệ vậy. Nếu thọ mạng chưa hết, thì vì công đức niệm Phật, quyết định được tiêu tai diên thọ. 

     Nếu tự biết bệnh nặng, nên dặn dò người nhà, hễ ai đến thăm hỏi sức khỏe, đều nên mời họ niệm Phật cho ta, không nên nói chuyện rông dài. Công đức niệm Phật là bất khả tư nghị, kinh dạy rằng: Niệm một câu A Di Đà Phật, có thể tiêu trọng tội sinh tử của nhiều kiếp, niệm một tiếng A Di Đà Phật, thượng cùng Hữu đính Thiên,

Hạ cực Phong luân Ngục, chúng sinh trong sa bà, đều được lợi ích của bố thí. Cho nên niệm Phật có thể siêu thoát vong linh quỷ thần, có thể cứu độ trung ấm. Nếu khi bệnh nặng thấy oán hồn ác quỷ đến quấy nhiễu, hoặc hóa làm thuận cảnh để dụ hoặc, chỉ cần nhớ chắc thành khẩn niệm A Di Đà Phật, oán hồn tà ma nghe niệm Phật, liền được siêu thăng thoát khổ, hoan hỷ mà đi. Vì thế oán kết được hóa giải, nghiệp chướng được tiêu trừ, tự mình có thể thuận lợi mà vãng sinh Cực Lạc Thế giới.

     Người niệm Phật, hoàn toàn nhờ nguyện lực đại bi của

A Di Đà Phật nhiếp thụ. Cho nên nhất tâm xưng niệm Phật hiệu, trong ao thất bảo ở Tây phương, liền sinh ra một đóa hoa sen, ghi họ tên người ấy, ngày sau thác sinh trong đó. Nếu ở nơi này niệm Phật tinh tiến không giải đãi, thì hoa sen ở cõi kia phóng ra bảo quang bốn màu, ngày càng rực rỡ. Tây phương Cực Lạc Thế giới, thanh tịnh trang nghiêm thù thắng vi diệu, lâu đài giảng đường nhà cửa do bảy báu hợp thành, chúng diệu trân dị thanh nhã thơm tinh khiết, đức thủy trong ao báu thanh trừ tâm cấu ô, nhạc trời không đánh tự vang lên, không lạnh không nóng điều hòa thích nghi, quần áo đồ ăn thức uống ứng niệm liền đến, các loài chim (hóa cầm) trân kỳ phát âm thanh hòa nhã, diễn giảng về khổ, không, vô thường, vô ngã, gió nhẹ lay động cây báu và lưới, tất cả đều diễn vô lượng vi diệu pháp âm, sáu căn thanh triệt không có các phiền não, trần lao cấu ô tập khí tự nhiên không khởi lên, trí tuệ tăng tiến đạt sâu vào thực tướng, thần thông tự tại thọ mạng vô lượng, không có các khổ chỉ hưởng mọi niềm vui.    

     Người ta nói chung sau khi chết, nhờ vào gia thuộc làm Phật sự để siêu thăng cứu độ, hoặc làm Phật sự vì muốn sỹ diện dễ coi. Mà không biết rằng khi còn sống dựa vào chính mình học Phật cầu giải thoát nhập Thánh đạo là dễ dàng, sau khi chết nhờ gia thuộc để siêu tiến được ích lợi là khó khăn. Cho dù gia thuộc con cháu thành kính thỉnh cao tăng làm Phật sự, cùng lễ bái sám hối cầu Phật gia bị mọi công đức, người chết chỉ thu được một phần bảy (1/7), còn sáu phần công đức quy về cho người sống, cho đến quy về cho người xuất gia làm Phật sự. Cho nên cần phải trước khi lâm chung, làm mọi công đức cho chính mình, khiến tự mình sinh tâm hoan hỷ, tâm thành kính, tâm sám hối, tâm niệm Phật, tự mình biết nương vào sức gia bị của Tam Bảo, được lợi ích lớn, thì dễ được cứu giúp. Tốt nhất làkhi thân thể còn khỏe mạnh, tự mình có thể phát tâm tu hành, tu phúc, niệm kinh lễ sám, trai giới niệm Phật. Hiểu biết chân tướng của vũ trụ nhân sinh, phát đại nguyện, lập đại chí, tu Thánh đạo, thành Thánh quả. Nhưngsự trợ niệm khi lâm chung, đương nhiên cũng làcực kỳ quan trọng.

     Nên mua một đĩa niệm Phật, khi bị bệnh thì lắng nghe và niệm theo, hoặc lắng nghe và mặc niệm. Nhĩ căn luôn luôn huân tập sự nghe, đã giữ được khí lực, lại có thể tịnh hóa thân tâm, tịnh duyên được tăng lên, trưởng dưỡng đài sen, xông ướp chủng tử đạo trong thức thứ tám (8) (A lại da thức). Khi lâm chung lại có thểphương tiện trợ niệm, giúp thành vãng sinh đại sự, thực là người bạn thanh tịnh tốt đẹp không thể thiếu khi bị bệnh.

 

NHỮNG NHẬN THỨC  MÀ GIA THUỘC PHẢI CÓ

 

     Nếu khi bệnh nặng khó thuyên giảm y dược vô hiệu, nên thỉnh cầu thiện hữu khai đạo cho bệnh nhân, giảng giải cho người bệnh rằng: đời người nói chung là khổ, không, vô thường, duy có Tây phương Cực Lạc Thế giới là thanh tịnh trang nghiêm nhất. Phú quý nhân gian chớp mắt là thành không, Tây phương Phật quốc thì sung sướng vô cùng. Người nhà đương vì ông (bà) sắp đặt cúng lễ sám hối trước Phật, bố thí phóng sinh, tụng kinh niệm Phật, để tăng phúc đức cho ông (bà). Khiến bệnh nhân hoan hỷ mong cầu, sinh khởi ý niệm an toàn, mà tâm có nơi quy về. Hãy khuyên người ấy buông bỏ tất cả, chuyên nghe mọi người vì mình mà niệm Phật, hoặc mở đĩa niệm Phật. Tâm bệnh nhân phải lắng nghe, mặc niệm, phải như con nhớ mẹ, nhất tâm quy mạng A Di Đà Phật, lấy chân tín thiết nguyện thành khẩn niệm Phật, vì được vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới mà cầu sinh về Tây phương. Gia thuộc và thân hữu càng phải thành kính trợ niệm, cầu từ bi lực của Phật gia bị cho bệnh nhân. Nếu thọ mạng chưa hết, tự có thể làm bệnh tình trở nên tốt, tiêu tai diên thọ. Nếu thọ mạng đã hết, thì được ơn Phật tiếp dẫn, nhất định vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới. Nếu bệnh nhân vì nghiệp chướng mà không thích niệm Phật, thì phải niệm một số lần Kinh Địa Tạng, hoặc niệm danh hiệu Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát, thì có thể tiêu trừ nghiệp chướng, hoan hỷ niệm Phật. 

     Gia thuộc đừng đến trước mặt bệnh nhân để nhìn, tránh cho bệnh nhân sinh khởi tình ái luyến. Gia thuộc niệm Phật không thể có âm điệu khóc lóc, tránh cho bệnh nhân khởi tâm bi thương, mà mất đi chính niệm. Gia thuộc tuyệt đối không được khóc, khiến tăng tình ái kéo theo phiền não bệnh khổ, hoặc có khi khiến bệnh nhân vì bị kích thích mà sinh tâm sân hận, vì tâm sân hận mà đọa vào ác đạo, làm sao không bị lỡ vãng sinh đại sự!

     Trước và sau khi bệnh nhân lâm chung, nếu có người uống rượu ăn thịt và năm món rau cay, thì không được đến trước bệnh nhân, nếu không, bệnh nhân dễ bị mất chính niệm, sẽ đọa vào ba ác đạo.

     Nếu đã tắt thở, vì thần thức còn chưa đi ra, mà vẫn còn trong giới hạn có tri giác di lưu, các y viện công, tư, trên tinh thần nhân đạo, và thái độ cẩn thận, được sự yêu cầu của gia thuộc người chết, mở phương tiện cho người lâm chung, dành cho thời gian 10 đến 12 giờ yên tĩnh, và cung cấp khí lạnh hay nước đá, làm cho nhiệt độ phòng bệnh hạ thấp. Đồng thời đối với người bệnh không được di chuyển chút nào, không thể có mọi hành động sai sót, trong phần thứ nhất của văn bản đã trình bày rồi. Cho đến tư thái nằm, cũng phải để yên không sửa đổi. Về sau có thể dùng khăn thấm nước nóng đắp lên các khớp xương, tự có thể chuyển thành mềm mại như khi còn sống.

     Phòng bệnh phải yên tĩnh không tiếng ồn, không được nói chuyện tạp loạn, nếu trước khi tắt thở chưa kịp mời người khai đạo, bây giờ thiện hữu phải cấp bách cao giọng khai đạo bên tai người bệnh như đã nói ở phần trước, tâm của vong nhân, cũng có thể biết được, khiến tâm có nơi quy về, tâm có nơi y theo. Gia thuộc và thân hữu phải thay phiên nhau niệm Phật, đầu tiên niệm sáu chữ Hồng danh vài chục phút, về sau niệm bốn chữ Phật hiệu “A Di Đà Phật”. Từng chữ từng câu phải niệm rõ ràng phân minh. Tốt nhất là niệm theo đĩa niệm Phật của pháp sư niệm Phật, trong tâm kiêm tưởng, cầu Phật từ bi nhiếp thụ, đích thân xuống tiếp dẫn. Tiếng niệm Phật không được gián đoạn, phải có thể khiến thần thức của bệnh nhân, do nhĩ căn nghe được từng câu phân minh, thì mới cảm ứng được nguyện lực của Phật, mà theo Phật vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới. Duy chỉ trợ niệm Phật hiệu trong phòng bệnh, không được phiền nhiễu các bệnh nhân khác.

     Một niệm cuối cùng khi lâm chung, là then chốt khẩn yếu giữa siêu thăng hay đọa lạc. Một niệm sau cùng là thiện thì sinh lên thiện đạo, một niệm sau cùng là ác thì sinh về ác đạo, một niệm sau cùng là niệm Phật cầu sinh Tịnh độ thì sinh về Thánh đạo. Tâm nhất niệm niệm Phật là tâm lực, nguyện lực của Phật là Phật lực, cảm ứng đạo giao là pháp lực. Ba loại lực bất khả tư nghị, dung hợp trong một câu Hồng danh; A Di Đà Phật tự nhiên từ trong tâm của người niệm Phật hiển hiện tiếp dẫn, cho nên tâm của một niệm niệm Phật cuối cùng khi lâm chung, tức là theo Phật vãng sinh về Tây phương Cực Lạc Thế giới, vì thế sự trợ niệm Phật hiệu của gia thuộc và thân hữu, là hy vọng niệm cuối cùng của người bệnh là tâm nhất niệm niệm Phật, theo Phật vãng sinh, cho nên giờ này phút này giúp người ấy niệm Phật, có sự diệu dụng thù thắng lớn nhất.

     Sau 10 đến 12 giờ, bất kể là đã sinh về Tây phương hay chưa, nói chung nên tiếp tục trợ niệm. Nếu đã sinh về Tây phương, thì vì công đức trợ niệm, có thể được tăng cao phẩm vị liên hoa. Nếu vì mất chính niệm mà chưa sinh về Tây phương, thì tâm linh của vong nhân, trong vòng 7 ngày, hoặc trong 7 lần 7 ngày, càng phải làm nhanh sự siêu tiến. Đại khái thân trung ấm của vong nhân, phiêu hốt bất định, cô đơn khổ sở không nơi quy về. Trong 7 lần 7 ngày, thân trung ấm trong từng niệm một, mong những người cốt nhục quyến thuộc, vì họ mà tạo phúc làm công đức, để cứu rỗi mọi khổ nạn. Cho nên một mặt cấp thiết thay nhau niệm Phật, để thân trung ấm nghe được tiếng niệm Phật mà được độ thoát, cũng như đói khát khó chịu đựng lại được uống cam lộ. Một mặt mời thêm cao tăng làm Phật sự, để siêu tiến nhanh, vì vong linh quảng tu phúc đức, tiêu trừ nghiệp chướng, được sinh về tịnh thổ.

     Nếu người chết khi bình thường tuy không học Phật, hoặc trên căn bản không tin Phật, nhưng trong cảnh khốn khổ của thân trung ấm mà nói, thân trung ấm khát vọng nhất là cầu được cứu độ. Nên sự siêu tiến (cầu siêu) trong 7 lần 7 ngày, là có hiệu quả thù thắng. Trong thời gian quá độ của nghiệp báo đời kế sau chưa hiện tiền (chỉ thân trung ấm), phải vì vong nhân mà quảng tu mọi điều thiện, làm mọi công đức, đem tâm chí thành hồi hướng cho người chết. Mục đích để chuyển đổi định nghiệp trong lúc biên duyên của đọa lạc, được sinh về Thánh đạo, vãng sinh Tịnh độ Phật, vĩnh viễn hưởng an lạc thắng diệu.

     Sau khi mạng chung, gia thuộc nên trong 7 lần 7 ngày, vì người chết tạo công đức rộng lớn, bố thí phóng sinh, cứu tế bần khổ, cúng dường Tam Bảo, lễ bái sám hối, tụng kinh niệm Phật, cầu Phật gia bị, tiêu diệt tội chướng, khiến vong nhân xa rời ác đạo, được sinh về Phật quốc, con cháu gia thuộc phải thâm thiết hiếu tư và công đức niệm Phật, cả hai điều này đều phải cảm ứng chí thành, mới khiến vong nhân thu được hiệu quả cứu độ.

     Sự thăng trầm khổ lạc của vong linh, trách nhiệm hoàn toàn ở người gia thuộc. Tốt nhất là miễn trừ tất cả mọi sự lãng phí không có ý nghĩa gì, chuyển sang làm công đức tế bần lợi người có ý nghĩa. Vậy không cần hậu liệm, không phải hậu táng, không nên phát tang lớn, không nên lễ tiết lôi thôi phiền phức, chớ nên chỉ lo đẹp đẽ thể diện, phải lấy tiền đề khiến vong linh được lợi ích thực tế. Trong vòng bảy bảy 49 ngày, gia thuộc nên ăn chay niệm Phật, và tránh ăn các rau cay (ngũ tân), cấm chỉ sát sinh. Tang tế đều nên dùng đồ chay, nên làm nhiều việc công đức, để cho vong linh tiêu nghiệp chướng được siêu thăng, mau tới Phật quốc Di Đà thanh tịnh. Gia thuộc không những cũng có thể đưọc phúc báo vô lượng, mà còn có thể cảm ứng các Thiện Thần thường hộ vệ cho.

     Siêu tiến vong linh, nên lấy việc niệm Phật làm chủ, gia thuộc và thân hữu đều có thể tham gia niệm Phật.

Niệm Phật độ vong, công đức lớn nhất, phương tiện nhất, kinh tế nhất, có ích thực sự nhất. Chỉ cần người tham gia niệm Phật, nên kỵ ăn uống rượu thịt, ngũ tân.

     Chùa Thiện Đạo, Hoa Nghiêm Liên Xã, chùa Pháp Vân ở Đài Bắc, đều có lưu truyền các đĩa do pháp sư niệm Phật, có thể lựa chọn một thứ, theo đĩa mà niệm Phật. Muốn lợi ích cho vong nhân, chỉ có làm công đức lớn, vì vong nhân tiêu trừ nghiệp chướng, chia ban trợ niệm Phật hiệu không gián đoạn, cầu Phật tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ. Nhất thiết không đốt vàng mã, vàng giấy, tiền âm, đừng đốt đồ dùng âm phủ. Đây là hành động ngu muội cầu mong cho vong linh đọa vào quỷ đạo âm gian, nên phải trừ bỏ.

 

CÁC VIỆC CẦN CẢI TIẾN CẤP THIẾT  CỦA NHÀ QUÀN

 

     Sau khi thần thức ra khỏi cơ thể, trừ những người đại thiện, đại ác, và người được vãng sinh Thánh đạo thì không qua trung ấm, người bình thường nói chung quá bán là có thân trung ấm, điều này thuyết minh ngẫu nhiên có tình hình người chết sống lại, xin đưa ra để tham khảo.      Thân trung ấm không có nơi về, phiêu hốt bất định, trong tình huống đã chết mà chưa sinh, hoặc có khi chấp thân xác này là mình, mà lấy làm đối tượng thụ sinh, nếu thi thể chưa bị hư thối, có thể hồi dương sống lại. Lại có một loại người bị chết đột ngột, nếu thọ mạng chưa hết, chưa đáng chết, trong vòng 7 ngày, Âm ty thả về, nếu thân hình chưa hư hoại, cũng có người sống lại. Lại có một loại do sự phán đoán sai, tức là bệnh nhân vẫn còn trong tình trạng di lưu, tâm thức chưa hề rời khỏi thân thể, mà người sống đã đối đãi như với một tử thi, hoặc tức khắc đưa vào nhà xác, hoặc ngay trong ngày rời đến nhà quàn, cho đến khi bệnh tình chuyển thành tốt, mà người khác lại cho rằng đã chết rồi lại sống lại. Về sự thực của việc phục hoạt, không chỉ được ghi chép lại nhiều, mà  ở y viện các nơi, nhà quàn các nơi, đều ngẫu nhiên phát hiện sự sống lại, cho nên đối với lâm chung đại sự, tất phải đặc biệt thận trọng.

     Vì thế vào lúc sau khi bệnh nhân tắt thở, cho tới khi nhập quan, trong quá trình này, gia thuộc đối với di thể của vong nhân, phải thời thời khắc khắc để ý xem xét bảo hộ, bất kể là thần thức đã đi hay chưa đi, nói chung phải đối đãi như thần thức chưa đi còn trong trạng thái di lưu, nhất định phải có mặt chăm sóc. Đối với việc xử lý vong nhân như tắm rửa thay áo hóa trang, cho đến nhập quan, tất cả quá trình, gia thuộc cũng phải giám thị xử lý, tóm lại, từ lúc tắt thở đến khi nhập quan, người gia thuộc phải giữ nguyên tắc không rời khỏi người chết, phải thực sự làm cho được hiếu đạo ở liền bên chăm sóc, tự mình xem xét việc khâm liệm, đây là công việc thiên kinh địa nghĩa

(hoàn toàn đúng không còn gì nghi ngờ). Nếu nói vì xã hội công nghiệp ngày nay, trên thực sự có khó khăn. Thì chúng ta phải xem xét kỹ mọi phương diện của xã hội, tổ chức hội thảo, nghiên cứu bàn bạc biện pháp cải tiến, để khắc phục trở ngại, vì mọi việc đều lấy con người làm nhân tố vậy. Làm sao có thể nói xã hội công nghiệp, thì bắt buộc phải đem thi thể còn chưa lạnh của cha mẹ, làm theo sự sắp xếp của nhà xác và nhà quàn ư?

     Các đô thị lớn trên thế giới, đều thiết lập nhà quàn, gia thuộc đối với mọi việc của nhà quàn, không nên quá tin mà dựa vào đó, phải quan tâm xem người chết có bị hại vì làm sai không. Nói chung gia thuộc của người chết, chỉ biết đem người chết đến nhà quàn, tự mình buông bỏ, mà không xem đến người chết có thể chịu thảm độc không. Gia thuộc và người điếu tế chỉ nhìn đến sự vinh hạnh sau khi chết, sự nghiêm túc cung kính, nhìn đến bề ngoài áo mão chỉnh tề của người chết, mà không chú ý đến chân tướng sự việc từ khi đưa đến nhà quàn cho đến trước khi nhập quan. Để đạt được tình lý, hợp với hiếu đạo, toàn bộ quá trình phải lấy sự giám thị việc xử lý làm nguyên tắc, để tránh cho người chết chịu thảm độc. “Tuỳ  thị  tại trắc, thâ n thị hàm liệm” (Ở liền bên chăm sóc, tự mình xem xét việc khâm liệm) là đạo đức văn hóa truyền thống của Trung Hoa, là hiếu đạo luân thường cố hữu. Nếu nói thân nhân của người chết, phải nghe theo mọi việc của nhà quàn, gia thuộc không được giám thị, đây là sự chống lại hiếu đạo rất lớn, không hợp với tập tục tốt đẹp của nước ta. Nếu như nhà quàn tự tiện dùng phương thức vô nhân đạo xử lý người chết, đó không phải là thương thiên hại lý sao! Con cháu hiếu thuận làm sao có thể không tăng cường cảnh giác đuợc! Hơn nữa căn cứ vào dư luận chung: có nhà quàn ở một số địa phương đem tử thi mổ bụng, lấy nội tạng ra, mà nhét mạt cưa và rơm vào. Hoặc đem người chết treo lên, để phun nước tắm. Năm ngoái tại nhà quàn ở địa phương X, phát sinh ra án kiện gian lận tử thi. Những loại thảm độc tàn nhẫn này, làm sao không khiến người ta kinh hãi? Nói chung là nếu không có gia thuộc giám thị, tất nhiên sẽ sinh ra điều ngoài ý muốn. Những quá trình xử lý người chết khác, thì căn bản không đáng để người coi, tự có thể nghĩ ra.  Loại nhà quàn như thế, làm sao không giống như địa ngục? Nếu thần thức của người chết, còn chưa rời khỏi thân thể. Thế tức là bệnh nhân có tri giác di lưu, trải qua sự xử lý thảm độc như thế của nhà quàn, có khác gì trong lò mổ của đồ tể. Tuy khi sống là chuyên gia học giả, hoặc là danh lưu văn nhân, hoặc là hào phú cự thương, thần thức sau khi lâm chung, không phải là cùng gặp sự nguy nan như nhau ư? Nói chung lại vô luận thần thức đã ra khỏi hay chưa, đối với người chết đều không nên cố ý làm hại, nhất định phải coi trọng hiếu đạo nhân đạo, đặc biệt thận trọng cho họ. Nhà quàn ở các địa phương, làm theo pháp tuy không giống nhau hết, nhưng nếu không có gia thuộc giám thị tại hiện trường, quyết không làm được đúng với quy củ.

     Nhà quàn là con đường ai ai cũng phải trải qua, cũng là công việc của đại chúng xã hội, để tiêu diệt tội ác, giữ gìn bảo hộ hiếu đạo nhân đạo, cho nên không thể sơ sót! Vì thế nhà quàn các địa phương, hãy nhờ cậy các bậc nhân giả hiền triết, hô hào hướng dẫn cải tiến, để kiến lập những thứ tất yếu của nhà quàn mẫu mực. Bản văn này chỉ phác thảo các điểm quan trọng cần cải tiến để tham khảo:

(1)Tất cả mọi thiết trí, cho đến phòng xá, địa thế kiến trúc, sự kinh tế vân vân… của một nhà quàn, nếu có khó khăn, nên do nhân sỹ địa phương và chính quyền sở tại hiệp trợ, để mong đạt được mức chí thiện.

(2)Cấm chỉ dùng các phương thức vô nhân đạo xử lý người chết.

(3)Trong quá trình xử lý người chết, phải hoàn toàn công khai, không được bí mật ngược đãi, gia thuộc người chết có thể tuỳ tiện giám thị việc xử lý.

(4)Nếu có phương thức xử lý nào người gia thuộc không đồng ý, phải nghiên cứu cải thiện.

(5)Phải lấy nguyên tắc cẩn thận hợp với hiếu đạo nhân đạo để xử lý.

(6)Trước khi nhập quan, nên để cốt nhục quyến thuộc của người chết, có thể theo nguyên tắc không rời khỏi người chết. Đô thị lớn nên xây thêm nhà quàn, tăng thêm các linh đường bình dân, để thuận tiện cho gia thuộc thủ linh. Nhất định khiến cho người người thực sự thực hiện được hiếu đạo “tuỳ thị tại trắc, thân thị hàm liệm”. Đây là xã hội tiến bộ, nên có những nhà quàn mẫu mực.

 

HỎA TÁNG 

NÊN CỬ HÀNH SAU 7 NGÀY

 

           Nếu là hỏa táng, có sự khác nhau về trời lạnh hay nóng. Trời lạnh trong vòng 7 ngày thường chưa biến sắc, nếu chưa đủ 7 ngày đã cử hành hỏa táng, một là, sợ dư thức chưa đi hết, hai là, phòng vạn nhất có khả năng hồi dương, vì thế nên sau 7 ngày, tốt nhất là sau hai tuần lễ, mới cử hành hỏa táng. Trời nóng thì dễ bị hư thối, có thể cân nhắc sớm lên. Tình hình chung, thường sau khi tắt thở 2, 3 ngày đã hỏa táng, đó là việc rất nguy hiểm và tàn nhẫn, nên phải thận trọng. Các bậc hiền triết xưa có nói: “Tam thất (21 ngày) hãy còn dư thức”, câu này cố nhiên chỉ tình trạng đặc thù, nhưng cũng đủ để chúng ta cảnh giác.

 

PHẢI DẶN DÒ Ý ĐỊNH CỦA MÌNH 

CHO GIA THUỘC TỪ TRƯỚC

 

     Là tôn trưởng của một gia đình, không nên xem việc nói về thường thức của sự lâm chung là không cát tường, mà kiêng tránh không nói, việc liên quan đến điều lợi hại thiết thân trước và sau khi lâm chung, cũng là vần đề lớn người người đều không thể tránh khỏi, mọi người lớn nam nữ trong nhà đều nên hiểu rõ. Thời gian đi rất nhanh, hơn nữa người già nhân khi thân thể còn khỏe mạnh, đem văn bản này tham khảo cùng người nhà một lần, đem ý chỉ quyết định của mình, dặn dò người trong nhà cho rõ ràng, là thượng sách nhất. Nói chung người ở tuổi trung niên trở xuống, đối vấn đề này có thể không quan tâm thiết tha lắm, người già nếu không đem chủ trương của chính mình, dặn dò người nhà trước, đến khi lâm chung, tâm lý khó sáng suốt, có lời muốn nói, cũng không biết làm sao nói ra miệng, nếu người nhà xử lý không hợp, thần thức sẽ chịu khổ nạn oan uổng.

 

NHÂN TỰ LỰC 

VÀ DUYÊN THA LỰC

 

     Lâm chung niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, phải đủ tự lực tha lực. Tự lực là chính nhân sinh Tây phương, tha lực là trợ duyên sinh Tây phương. Nhân duyên hòa hợp, mới có thể cảm ứng đạo giao, thành tựu đại sự vãng sinh.

     Về tự lực mà nói, lúc bình thường phải thâm tín có Tây phương Cực Lạc Thế giới, thâm tín có A Di Đà Phật, thiết nguyện sinh Tây phương Cực Lạc Thế giới, thiết nguyện thấy A Di Đà Phật. Màchí thành nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh độ, cầu gặp Di Đà. Từng chữ từng câu, phát ra từ tâm, xuất ra từ miệng, niệm niệm tiếp nhau, không gián đoạn. Âm thanh êm dịu ai nhã, giọng thành khẩn bi thiết. Trong từng niệm một đầy đủ vui vẻ mãn nguyện, mỗi câu Phật hiệu đều xin nguyện vãng sinh, nguyện Phật từ bi gia bị nhiếp thụ, nguyện Phật thương xót đưa tay xuống đón. Di Đà Như Lai niệm đến chúng sinh, như mẹ nhớ con, chúng sinh tín nguyện trì danh nhớ Phật niệm Phật, như con nhớ mẹ, hai bên nhớ niệm sâu xa, không khác gì nhau, cảm ứng đạo giao, liền được nhiếp thụ. Bất kể gặp cảnh thuận nghịch khổ vui, nên dứt mọi ngoại duyên, không tuỳ cảnh chuyển, mọi lúc mọi nơi, chuyên cần xưng danh, đều nhiếp sáu căn, tịnh niệm tương kế. Lâu ngày công phu thuần thục, khi mạng lâm chung, mới có thể buông xả thế duyên, đề khởi niệm Phật. Lâm chung nếu có thểchính niệm không mất, tất được ơn Phật tiếp dẫn, trong khoảnh khắc gảy móng tay, liền được vãng sinh Cực Lạc Thế giới. 

     Khi bệnh nhân lâm chung, người khác trợ niệm cho người ấy, một là, có thể giúp bệnh nhân đề khởi tâm niệm Phật. Hai là, có thể giúp bệnh nhân sám hối tội chướng. Nếu nghiệp chướng tiêu trừ, Thánh chúng trên đài hoa, thắng cảnh Tịnh độ, tự nhiên hiện tiền.

     Khi lâm chung, có thể chân tín thiết nguyện như lúc bình thường, có tâm khẩn thiết niệm Phật vãng sinh, một niệm tâm niệm Phật cuối cùng này, là “nhân tự lực”.

     Người lúc bình thường không biết tín nguyện niệm Phật, hoặc tuy tín nguyện niệm Phật, mà công phu chưa thể thuần thục, vào lúc lâm chung, gặp thiện hữu khai đạo, mà tâm sinh hoan hỷ, tâm sinh chính tín, phát nguyện tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh độ, cũng là “nhân tự lực”.

     Nguyện lớn của A Di Đà, phổ độ chúng sinh, Thế giới Cực Lạc, thanh tịnh trang nhiêm, tức là “duyên tha lực”.      Các bạn thanh tịnh khai đạo một cách thiện xảo, khiến sinh ra chính tín, khuyên người ấy buông xả mọi thứ, nhất tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh độ. Liên hữu và gia thuộc vì trợ niệm Phật hiệu, cho đến 10 tới 12 giờ, không di động, không khóc lóc …, cũng là “duyên tha lực”.       Nếu khi lâm chung, nhân tự lực và duyên tha thực, có thể đầy đủ không thiếu, tất có cảm ứng đạo giao, nhất định được ơn Phật tiếp dẫn, niệm trước khi mạng chung (tiền niệm), niệm sau khi mạng chung (hậu niệm), tức được vãng sinh Tây phương Cực Lạc Thề giới. Hễ người nào có điều kiện nhân duyên phù hợp như trên, vạn người tu vạn người được đi.

     Ngày thường tuy tín nguyện niệm Phật, nhưng khi lâm chung bị bệnh khổ bách bức, tâm niệm Phật “không đề khởi được”, hoặc tâm tham luyến tình dục thế gian cho đến con cháu tài sản, lại “không buông bỏ”, đây tức là “không đủ nhân tự lực”.

     Nếu khi lâm chung, không có thiện hữu khai đạo, cũng không có người trợ niệm Phật hiệu, lại gặp gia thuộc không biết, di động, khóc lóc, mà phá hoại chính niệm, không thể mở miệng, không thể nói ra lời được, tăng thêm đau khổ. Đây tức là “không đủ duyên tha lực”.      Nếu khi lâm chung, có nhân tự lực, mà thiếu duyên tha lực, hoặc công phu thuần thục có sự chắc chắn, không cần trợ niệm, nhưng vì gia thuộc di chuyển, khóc than, mà phá hoại mất chính niệm. Đây đều là hữu nhân vô duyên, không thể vãng sinh.

     Nếu khi lâm chung, chỉ đơn thuần dựa vào trợ duyên thiện hữu khai đạo, gia thuộc trợ niệm, không di động, không khóc…, mà tự mình bị bệnh khổ bức bách, hoặc tâm vương vấn tình ái thế gian, tài sản không buông bỏ được, cho nên không đề khởi nổi tâm tín nguyện niệm Phật. Đó là hữu duyên vô nhân, không thể vãng sinh.

     Đại nguyện của A Di Đà, giống như trăng sáng, chiếu sáng mọi nơi. Chúng sinh niệm Phật, phải như nước trong, tịch tĩnh bất động. Nước thật trong thì trăng hiện ra, tâm tịnh Phật hiển. Cơ duyên niệm Phật thuần thục, cảm thông tương ứng, thừa nguyện lực Phật, thảy đều vãng sinh.

 

KẾT LUẬN

     Chúng Ta từ vô thủy đến nay, vì một niệm bất giác, hướng ngoại mau được thỏa ý, bám theo duyên trần cảnh. Sức huân tập của nhân duyên ngu si vọng tưởng, khiến tâm sinh diệt, niệm khởi pháp sinh, lớp lớp điên đảo, cho đến toàn chân thành vọng, ngăn che (chân lý) diệu minh. Vì do tâm sinh, muôn loại pháp sinh, vì do pháp sinh, muôn loại tâm sinh, tâm cảnh giao nhau, triển chuyển hun đúc lẫn nhau. Do tham sân si phiền não, phát ra thân khẩu ý, tạo các thứ hữu lậu, khởi hoặc tạo nghiệp, nhân nghiệp hoặc quả, quả lại làm nhân, nhân quả xoay chuyển, không có ngừng nghỉ. Như thế đời đời kiếp kiếp, bỏ thân này nhận thân khác, lưu chuyển vô kỳ hạn, trong biển nghiệp trôi nổi, lăn mãi trong tam giới. Vì trong mộng ảo này hiện ra sáu nẻo thăng trầm, phải nhận oan mọi sự đại khổ của thân tâm, vô lượng bức bách, mà không biết được. Nên biết do vọng mà có sinh, do sinh mà có diệt, sinh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là sân. Đã hiểu rõ duyên sinh tức là mộng ảo, vọng niệm không còn, khuyến tu giới định tuệ, theo thời gian khế nhập chân như pháp tính, thấy rõ bản thể bất động, liền có thể cắt đứt mạch sinh tử. Cũng tức là tuyệt dứt mọi vọng tưởng hư ảo sinh diệt, ngộ nhập tính thể chân thực bình đẳng nhất như vậy. Tuy nhiên hoàn toàn dựa vào tự lực để đoạn mê hoặc chứng đắc chân thực, phản bản hoàn nguyên, để đạt được mục đích xuất ly tam giới, liễu thoát sinh tử, trừ phi đã nhiều kiếp tiệm tu trong quá khứ, hun đúc đạo chủng đầy đủ, nếu không, trải qua bao nhiêu kiếp cũng sợ chưa thể chứng ngộ được. Duy chỉ có Pháp môn Tịnh độ, ơn Phật lực từ bi, có thể đới nghiệp vãng sinh, vĩnh viễn lên bậc bất thoái. Chỉ cần chân tín thiết nguyện, chí thành niệm Phật, cầu sinh tịnh độ, liền có thể vượt khỏi tam giới, không phải lùi lại nữa. Vì thế lâm chung niệm Phật, cầu sinh Tây phương Cực Lạc Thế Giới, là mấu chốt để siêu phàm nhập Thánh, cũng là con đường tắt nhanh chóng thành tựu chính giác, bỏ đường này, không có con đường ổn định nào khác có thể đi được. Vậy tín nguyện trì danh, tức là chuyển rời chỗ ở đến nơi liễu thoát sinh tử, vĩnh viễn thoát khỏi vực sâu trói buộc của nghiệp chướng. Lại do sự tăng thượng của tịnh duyên mà mau chứng được vô sinh, kế đến đem nguyện lực trí lực trở lại khắp trần sát để cứu bạt quần phẩm. Khi tự lực đã đạt được “nghiệp tận, tình không”, mới phá hết vô minh chứng được pháp tính, tất nhiên siêu việt nhiều kiếp để thành chính giác, sự khó dễ của thành tựu này (so với các pháp môn khác) khác nhau như trời cao với vực sâu. Các bậc hiền triết ngày xưa nói: “Chỉ được gặp Di Đà, lo gì không khai ngộ.” Cho nên chỉ cần được sinh về Tịnh độ, nhất định được thấy Phật nghe pháp, mở được tri kiến Phật. Nếu chứng vô sinh nhẫn, tự thân được thụ ký, tức khác nào được ban học vị. Từ đó không những suốt trong tương lai, luôn được hưởng pháp lạc, mà còn ở khắp thế giới mười phương, tuyên diễn pháp nghĩa, tự hành hóa tha, đại hành bồ tát đạo. Nên nói bên trong chứng đắc thánh trí để thoát khỏi sinh tử, bên ngoài dẫn vạn hạnh để vào nguyện hải vậy. Nhập Niết Bàn không xả đại bi, phương tiện giáo hóa chẳng rời bản tế.

     Người học Phật, phải lập chí nguyện lớn, phát vô thượng đại bồ đề tâm, thệ nguyện chứng ngộ vô sinh, sau khi được ơn Phật thụ ký, đi theo hướng đại đạo bồ đề, đem sức trí tuệ bi nguyện, vào khắp biển khổ phiền não sa bà, hưng khởi vô duyên chi từ, vận đồng thể chi bi, bình đẳng làm ích lợi lớn hết thảy chúng sinh, tứ nhiếp tịnh hóa tất cả chúng sinh, chuyển pháp luân, thuyết pháp nghĩa, để cắt dòng trường lưu của nghiệp thức vô minh, ngộ nhập biển tính thanh tịnh tịch diệt, ra hết khỏi ác thế ngũ trọc của sa bà, tất cả cùng lên nước Hoa Sen chín phẩm Cực Lạc. Quảng độ nhất thiết chúng sinh trong pháp giới như thế, trải qua cực vi trần số kiếp, viên tu vạn hạnh, viên mãn vạn đức, bi trí song vận, phúc tuệ đầy đủ, mà chứng vô thượng chính giác, cũng tức là nói viên mãn vô thượng đại bồ đề. Đây là thành tựu tối cứu cánh trên cầu đại giác dưới hóa chúng sinh. Đây là thay thế Như Lai gánh vác gia nghiệp độ thoát chúng sinh phổ lợi hàm thức. Đây là Bồ tát nghiệp do đại trượng phu làm. Đây là chân tinh thần của Phật pháp Đại thừa cao quý vĩ đại.      Những điều thuật trong văn bản này, không có thời gian tính, không có địa phương tính. Vì tất cả nhân sỹ trên thế gian hiện nay và mai sau, mà cung cấp thường thức về trước và sau khi lâm chung. Mong bậc nhân sỹ các nơi, phổ biến, coi trọng một đại sự tối hậu của đời người. Nguyện người lâm chung ngày nay và mai sau, đều có thể tiêu trừ nghiệp chướng, viễn ly phiền hoặc, hoàn tâm bản tịnh, cùng lên bờ giác, đều được vãng sinh về Cực Lạc Thế giới của A Di Đà Phật.

     Hoan nghênh các bậc hiền đạt nhân mọi nơi, khởi xướng in lại để biếu, kết tịnh duyên lớn, triển chuyển lưu truyền, khiến người hiện tại vị lai được lợi ích, công đức vô lượng, phúc tuệ vô lượng, tổ tiên đều được siêu thăng, con cháu hiền hiếu nhân từ.

 

     Phật lịch năm 2521, tháng 4.

     Trung Hoa Dân quốc năm 66, tháng 4     

     Dư Thiệu Pha bổ sung và hiệu đính  tại nơi cư ngụ ở Tân Điếm

         

 

= * =

     ĐẠI SƯ LIÊN TRÌ nói:

     Chuyên trì danh hiệu A Di Đà Phật, hơn trì chú Vãng sinh,

     Cũng hơn trì các chú khác, cũng hơn tất cả các công đức khác.

 

      Hơn trì chú Vãng sinh:

      Trì chú ba mươi vạn biến,

     Thì thấy A Di Đà Phật;

     Trì danh trong một ngày một đêm,

     tức thì Phật hiện tiền.

 

     Chú nói: ngày đêm 6 thời, mỗi thời tụng ba lần bảy (21) biến, có thể diệt tội ngũ nghịch vv…

     Trì danh đến chí tâm niệm Phật một tiếng, tức diệt được trọng tội sinh tử trong 80 ức kiếp.

 

     Hơn trì các chú khác:

     Chuyên trì danh hiệu, tức là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú.

     Lấy 10 niệm được sinh, sinh tức bất thoái, uy linh không luờng được, là đại thần chú vậy.

     Nhất tâm bất loạn, đoạn vô minh, thấy tự tính, là đại minh chú vậy.

      Vãng sinh Cực Lạc, cứu cánh thành Phật, là vô thượng chú vậy.

     Chứng vô sinh nhẫn, hồi nhập sa bà, phổ độ chúng sinh, là vô đẳng đẳng chú vậy.

 

     Niệm Phật hơn mọi công đức khác:

     Lục độ vạn hạnh, pháp môn vô lượng;

     Chuyên trì danh hiệu, nhiếp không gì không hết; bởi vì không ngoài nhất tâm.

     Nguyện đệ tử tịnh nghiệp, chuyên giữ tín nguyện của mình, bất nhị kỳ tâm.

     Cổ đức có nhiều người đầu tiên tu theo các môn khác, còn phải đổi sang tu niệm Phật.

     Huống chi người đầu tiên tu niệm Phật, sao lại dám đổi môn mình vốn đang theo, mà theo môn khác!

 

     Nam Mô A Di Đà Phật

 

PHÉP THẬP NIỆM TINH YẾU

 

     Xin kính cẩn đề nghị “Giản yếu tất sinh thập niệm pháp” của Pháp sư Tịnh Không tuyên thuyết, làm thường quy cho người học Tịnh độ Tông từ nay về sau, nói chung cả người tự tu và người cộng tu. Nay xin thuyết minh như sau:

     Người tự tu, tức là phép niệm Phật 10 tiếng Phật hiệu mỗi ngày 9 lần. Đó là khi ngủ dậy và trước khi đi ngủ niệm một lần (2), trước ba bữa ăn trong ngày niệm một lần (3), trước và sau giờ làm việc buổi sáng niệm một lần

(2), trước và sau giờ làm việc buổi chiều niệm một lần (2), cộng là 9 lần. Mỗi lần xưng niệm bốn chữ hoặc sáu chữ danh hiệu Di Đà, còn các khóa niệm thường định hàng ngày có thể cứ tiến hành như thường.

     Người cộng tu, phàm là giảng kinh, hội họp, ăn chung vv… không phải là hội nghị có nghi quỹ đặc định, trước khi tập thể tiến hành công việc, thực hiện phép thập niệm. Cũng tức là ước đồng đại chúng chắp tay đồng thanh niệm 10 tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật”, rồi sau đó bắt đầu các hoạt động theo chương trình như giảng kinh, hội họp, ăn chung vv…

     Theo phép thập niệm để tự tu và cộng tu, có những pháp ích đặc thù của nó. Xin cử vài thí dụ sau:

1.                 Phép này đơn giản dễ làm, dùng ít thì giờ mà hiệu quả lớn, xác thực thiết yếu, có thể áp dụng lâu dài và rộng rãi.

2.                 Là một phương pháp hữu hiệu cụ thể “Phật hóa gia đình”.

     Thí dụ: thực hiện trước ba bữa ăn trong gia đình, để các thành viên của gia đình cả người tin và người không tin đều được nhiếp trì không sót. Lại Phật hóa thân bằng lân lý, phổ cập lợi ích lớn xã hội.

3.                 Lấy sự đơn giản dễ làm, một ngày 9 lần, từ sáng đến tối, không khí Phật không ngừng. Trong sinh hoạt của một ngày, Phật niệm nối tiếp nhau, một ngày lại một ngày. Có thể giữ đúng như thế trong lâu dài, khí chất tâm tính người tu hành dần dần thanh tịnh, sinh tín tâm và pháp lạc, phúc lớn không cùng tận.

4.                 Nếu có thể tuỳ thuận thân hòa, xưng niệm 10 tiếng Phật hiệu, khu trừ tạp nhiễm, lắng tịnh tâm niệm, ngưng tụ tâm thần, chuyên tâm vụ đạo, cho đến làm việc dễ thành, gặp mọi cát tường, ơn Phật gia hộ, công đức bất khả tư nghị vv…

5.                 Người tự tu và cộng tu, giúp nhau, dung hợp nhau, tư lương hợp lại, cá nhân nắm quả vãng sinh trong tay, mà đại nghiệp Bồ đề của cộng đồng cũng thành tựu. 6.Pháp này có thể lấy hai pháp danh. Tên thử đặt.      Một là “Tịnh nghiệp gia hành thập niệm pháp”, là nói về người tu hành có định khóa, vì pháp này là từ khóa nghiệp vốn có mà gia hành thêm.

     Một là “Giản yếu tất sinh thập niệm pháp”, là nói về đại bộ phận người tu tịnh nghiệp không có định khóa hiện nay và sau này. Vì xã hội ngày nay vô trật tự, vội vã không ngừng, con người khí lượng nghi ngại nhiều khó khăn. Mà pháp này dễ tập tư lương, có tín nguyện hành, bình dị đầy đủ. Mà tiêu chuẩn “đều nhiếp sáu căn, tịnh niệm nối nhau”, rất là phù hợp không khiếm khuyết.      Vì thì giờ mỗi lần niệm Phật ngắn, dễ nhiếp tâm và không giải đãi. Lại lấy công hành 9 lần niệm Phật, chia đều trong cả ngày, thân tâm cả ngày, không thể không là Phật. Thế tức là cả ngày sinh hoạt đã niệm Phật hóa, niệm Phật đã sinh hoạt hóa.

     Nói chung lại, pháp này giản yếu mà thoải mái, không một chút khổ vì khó khăn cứng nhắc, nếu pháp này được thực hành rộng rãi, đó là sự may mắn lớn của người học tịnh nghiệp! May mắn lớn cho chúng sinh tương lai! Chư Phật hoan hỷ.

 

     Nam Mô A Di Đà Phật

     

     Ngày Chư Phật hoan hỷ năm 1994

     Mỹ quốc Tịnh Tông Học hội

     Tứ chúng đồng luân kính khuyến

 

 

 

                                      = * =

     Phật giáo là nền giáo dục chí thiện viên mãn của Phật Đà đối với chúng sinh trong 9 pháp giới.

     Toàn bộ kinh đức Thích Ca Mâu Ni dạy trong 49 năm, nội dung tức là chân tướng vũ trụ nhân sinh. Nhân sinh là chính chúng ta, vũ trụ là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta.

     Giác gọi là Phật, Bồ tát, không giác là phàm phu.      Tu hành tức là đem cách nhìn, cách nghĩ, cách nói, cách làm sai lầm của chúng ta đối với vũ trụ nhân sinh, tiến hành tu chính.

     Cương lĩnh tu hành của Phật giáo là giác, chính, tịnh. Giác nhi bất mê, chính nhi bất tà, tịnh nhi bất nhiễm. Cùng y theo giới, định, tuệ tam học, để cầu đạt tới mục tiêu này.

     Cơ sở của tu học là tam phúc, đối với người dựa vào lục hòa, xử thế tu theo lục độ, tuân theo nguyện của Phổ Hiền, quy tâm về Tịnh độ. Sự giáo hóa của Phật có thể hoàn tất vậy.

 

                                                   Tịnh Không

 

 

 

 

 

 

                                        = * =

HỒI HƯỚNG

 

NGUYỆN ĐEM CÔNG ĐỨC NÀY

TRANG NGHIÊM PHẬT TỊNH ĐỘ

TRÊN ĐỀN BỐN ƠN NẶNG DƯỚI CỨU BA ĐƯỜNG KHỔ

NẾU CÓ AI THẤY NGHE

ĐỀU PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

HẾT MỘT BÁO THÂN NÀY

ĐỒNG SINH VỀ CỰC LẠC

 

= * =

 

SÁCH BIẾU KHÔNG BÁN

HOAN NGHÊNH PHIÊN ẤN

CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG

 

= * =

 

Xuất xứ nguyên bản Hán ngữ:

Chẩn Dạng Niệm Phật Vãng Sinh Bất Thoái Thành Phật

 

Ấn tặng giả : Đài Nam Tịnh Tông Học Hội

Địa điểm: 107 tầng 4 đường Văn Nam – Đài Nam

Hộ danh: Hứa Văn Hân

 

                                      =  *  =

KINH SÁCH DO MINH NGỘ DỊCH TỪ HÁN NGỮ:

 

NHẬN THỨC PHẬT GIÁO

Những bài thuyết giảng của Pháp sư Tịnh Không, cung cấp thường thức về Phật giáo - khuyến tu học theo pháp môn Tịnh độ trên căn bản Kinh Vô Lượng Thọ.

 

KINH PHẬT THUYẾT ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ

TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC

Cư sỹ Hạ Liên Cư hội tập bản thường gọi tắt là KINH VÔ LƯỢNG THỌ

Kinh văn được chuyển ngữ dưới sự chỉ giáo và hiệu đính của Đại lão Hòa thượng Thích Chánh Lạc. Đây là một trong ngũ kinh căn bản để tu học pháp môn Tịnh độ.

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NIỆM PHẬT VÃNG SINH BẤT THOÁI THÀNH PHẬT

Cuốn sách gồm hai tài liệu thường thức về sự lâm chung - niệm Phật – vãng sinh. Lâm chung là bước ngoặt tất yếu tất cả chúng ta phải trải qua. Cuốn sách hướng dẫn để bảo đảm thành tựu tu học một đời không bị uổng phí.

 

Nam Mô A Di Đà Phật!

DỊCH GIẢ VÀ GIA ĐÌNH KÍNH BIẾU

TẢI FILE PDF