Đạo và đời

[GƯƠNG NHÂN QUẢ]: Sát Sanh Hại Vật Ăn Nhậu Người Thân Chết Liên Tục. Vợ Mang Bầu Ăn Thịt Chó Sinh Con Ra Lông Vàng Dài Như Lông Chó.


 

Phật tử Nhật Trung sinh ở Long Khánh, Đồng Nai; sau đó anh theo gia đình sinh sống ở Đà Nẵng. Anh có vợ và hai con, mở nhà hàng kinh doanh các món nhậu tươi sống. Nhà hàng của anh ta khá đặc biệt, là điểm mang lại 'cảm giác máu lạnh' cho những vị khách hiếu kỳ, thích tìm cảm giác thích thú khi được tận mắt chứng kiến con vật được giết sống trước khi ăn. Để lôi cuốn khách hàng, anh ta sáng kiến đặt tên cho những món ăn cho “kêu”, “độc”, “lạ” rồi sáng tạo cách giết hại dã man các loài thú vật để mua vui cho khách. 

Anh đã thử sáng tạo rất nhiều cách giết: cắt tiết bốn lần cho vịt chết từ từ; cá lóc còn sống anh ta chiên cho chín hết, nhưng bộ ruột phải còn sống; tôm đất còn sống anh ta bỏ từng con vào nồi dấm sôi. Anh thu nhập bằng những hành động tàn ác như vậy, nhà anh phất lên, nhưng đồng thời anh cũng vướng vào hai thú tệ nạn: gái và rượu. Anh lao vào ăn chơi sa đọa cùng với những bạn bè sau 10 giờ đêm đến 3-4 giờ sáng. Bản thân anh cũng 'khát máu' thích ăn nhậu “độc, lạ” hơn khách hàng, ăn trong sự giết chóc đau đớn của chúng sanh khác, con vật càng rên la thì anh lại càng thích thú, khoái trá. Anh ta tự chế biến món nhậu cho mình: bỏ chó vào bao dìm nước cho chết, hoặc đập đầu để còn tươi; trói khỉ, vạt đầu, lấy óc tại chỗ; rưới từng gáo nước sôi lên lông mèo để lông mèo tự bung mà không cần nhổ; hay trói bò, chặt đuôi, uống máu bò sống v.v. Dường như tất cả loài vật anh đều giết để ăn, chỉ còn có con người là anh chưa ăn thịt. Nếu như không có xảy ra tai họa, có lẽ cuộc đời anh vẫn mãi tàn ác như thế.

Năm 2000, quả báo ập đến: trong vòng hai năm, sáu người thân trong gia đình anh đều chết bất đắc kỳ tử. Từ ông ngoại vợ, cậu vợ, mẹ vợ, hai người em ruột, cô ruột. Điều kì lạ, hễ ai chăm sóc thì không sao, nhưng khi anh ta vừa đến thăm, hoặc chăm nuôi thì người đó chết. Đến nỗi gia đình bên vợ phải từ anh, vì họ cho rằng anh đi đến đâu gây tai họa chết chóc cho người khác, ngay cả gia đình cha mẹ ruột cũng giận anh không nhìn. 

Từ năm 2004 đến 2006, công việc nhà hàng kinh doanh bắt đầu ế ẩm, kinh tế sa sút, anh lại bị lừa tiền nên trắng tay, mọi thứ không may đều ập đến. Anh trở nên chán nản, tâm thức bắt đầu sợ hãi, tinh thần không còn như gỗ đá mà biết đau khổ.

Khi gia đình lo đám tang cho em ruột anh, có vị Thầy bảo: “Nhà này đều chết bất đắc kỳ tử, nếu như trong nhà có ai phát tâm ăn chay trong bốn mươi chín ngày thì mới mong cứu người còn lại”.

Bỗng nhiên anh nói: “Nếu như Phật có linh thiêng thì con phát tâm ăn chay bốn mươi chín ngày cầu cho gia đình không ai bị chết nữa!”

Anh cố gắng ăn chay được bảy ngày, đến cúng thất lần thứ nhất xong. Bỗng nghe mùi kho cá từ hàng xóm bay qua, làm cho anh không chịu nổi. Anh lên bàn thờ Bồ-tát Quán Thế Âm khấn thử: “Mẹ Quán Âm giúp con, nếu không chiều nay con ăn mặn trở lại”. Và sự nhiệm mầu bắt đầu đưa đến.

Chiều hôm ấy, vào lúc 5 giờ 30, anh đi thăm mộ người em ở Đà Nẵng. Khi anh đi ngang qua căn nhà thấy bốn người đang cột một con heo trên cái băng ghế dài để chọc tiết. Trời nhá nhem tối, anh định thần nhìn kỹ lại thì không thấy con heo mà thấy một ông già bị trói chuẩn bị giết. Động lòng trắc ẩn, nên anh chạy ngay vào nhà, đẩy bốn người kia ra, không cho giết ông già. Bốn người này cho anh là kẻ điên. Anh nhìn lại vẫn thấy ông già bị chọc tiết, trên cổ máu vẫn còn chảy xuống băng dài. Anh bị một người lớn trong số họ tát vào mặt thật mạnh. Anh mới nhìn kỹ lại thì thấy là heo, nên anh xin lỗi và đẩy xe ra ngõ.

Nhưng không ngờ, anh ra đến đầu ngõ thì thấy ông già cổ đầy máu xuất hiện trước mặt và gọi giọng the thé “Chú ơi!”. Lần đầu tiên anh hoảng sợ, nổi da gà. Nhưng bỗng nhiên trong tâm thức chợt mát lạnh từ đỉnh đầu đến chân, làm anh tỉnh táo không thấy sợ (nhờ lực gia trì của Bồ-tát), nên hỏi lại: “Ông già là ai?”

Lúc ấy, anh và ông cụ nói chuyện với nhau bằng tâm thức. Ông cụ cho biết bốn người kia đều là con cháu mình, mảnh đất này xưa kia là lò mổ heo, bò. Ông mất đã bốn mươi năm, nhưng mỗi năm đầu thai mang thân heo để trả nợ, đến nay là năm thứ bốn mươi. Ông nhờ anh vào nói với con cháu cầu siêu cho ông. Anh hứa với ông, nên quay trở vô nói chuyện với bốn người kia. Họ nghe xong, sợ hãi khiêng con heo quăng xuống sông. Sau đó, họ đến chùa xin cầu siêu cho ông. Sau chuyện này, anh nhìn con vật nào cũng thấy là con người, cho nên không dám ăn mặn và bắt đầu tin Phật.

Năm 2001, vợ anh mang thai con đầu lòng, nên anh dẫn vợ đi ăn thịt chó cho bổ. Thế nhưng, không thấy bổ mà vợ sinh khó, đứa trẻ ốm yếu phải nằm lồng kính, bị tắc ống mật dẫn qua gan. May mắn thay con anh được chữa khỏi. Tuy nhiên trên lưng bé, lông măng không rụng mà dài ra, vàng như lông chó. Đây là quả báo do ăn thịt chó mà ra. Bản thân anh thì bị chứng đau đầu hành hạ dữ dội, luôn phải đập đầu vào tường cho đỡ đau. Người anh nổi ngứa mọc từng vảy sừng có hình con vật lạ như tôm, cua, cá. Anh phải thỉnh quý Thầy trì chú Đại bi thoa lên mới hết ngứa và lặn xuống.

Cũng may, anh nhờ căn lành từ nhiều kiếp trước, nên gặp được nhiều thiện tri thức giúp anh thức tỉnh tu hành. Hiện nay, anh phát tâm ăn chay trường, tụng kinh Địa Tạng, lạy sám hối, tin sâu nhân quả và phát nguyện sẽ mãi là một Phật tử, hộ trì Tam bảo, sẻ chia với nhiều người đau khổ và những người không biết tu.

Chúng sinh hiện hữu trên cuộc đời này, tuy có hình dáng khác nhau, nhưng đều biết đau khổ, vui buồn, tham sống, sợ chết giống nhau. Vậy mà mỗi ngày, chúng ta đều chứng kiến cảnh đau đớn hãi hùng của loài súc sinh, chim muông bị giết chết ở các lò mổ, nhà hàng v.v. để làm thức ăn cho mọi người. Vì thế, trong năm giới Đức Phật đưa giới sát sinh đứng đầu, không những để hàng đệ tử thực hành tâm từ bi mà còn tránh được oán thù nhiều kiếp. Vả lại, chúng sanh luân hồi trong sáu đường, biết đâu loài súc sinh ta giết hại chính là ông bà ta bị đọa. Câu chuyện sau đây là một chứng minh sự thật. 

Chúng ta ăn chay là thể hiện lòng từ bi, không những bản thân mình tránh được oán thù, mà còn đem lại sự an lạc cho tất cả chúng sanh. 


Nam Mô A Di Đà Phật!
Diệu Âm Lệ Hiếu kính ghi lại từ Phật pháp nhiệm mầu kỳ 31