Đạo và đời

[GƯƠNG NHÂN QUẢ]: Giết Bầy Cá Ăn Quả Báo Tất Cả Con Cái Đều Chết Hết



Tại một vùng nông thôn thuộc miền Đông bộ Thái Lan, có một nông phu tên là A Bang. Vợ A Bang sinh được ba con gồm hai nam, một nữ. Thằng đầu tên Ô được 9 tuổi, thằng kế tên Hồng 7 tuổi và bé út gái tên Bạch 5 tuổi.

Hôm nọ, hai vợ chồng A Bang đến dự lễ tiệc nơi nhà một người bà con, bỏ ba đứa nhỏ ở nhà. Nơi chúng ngụ là căn phòng bằng gỗ xây theo kiểu Thái. Cạnh phòng có chất một đống rơm khô. Ngoài ra còn có một máng xối hình chữ thập để hứng nước mưa và một hàng lu dùng để chứa nước uống.

Nhà ở các hộ nông dân nơi đây xây cách nhau rất xa, phân bố rải rác trong điền viên.

Hôm đó, căn phòng gỗ đột nhiên bốc cháy, láng giềng ở xa chỉ nhìn thấy khói đen bốc cao. Lửa vây kín nhà, cả tòa nhà gỗ chẳng mấy chốc bị thiêu rụi, ba đứa trẻ trong nhà do cổng khóa kín không thể chạy đi đâu.

Nghĩ là nước trị lửa, thằng Ô lần lượt bồng hai em đem bỏ vào hai cái lu to đầy nước và đậy nắp lại. Sau đó nó cũng nhảy luôn vào một cái lu khác để tránh lửa.

Khi bà con hàng xóm và nhân viên cứu hỏa chạy đến thì cả tòa nhà gỗ và bốn đống rơm đã cháy rụi hoàn toàn, còn thiêu chết con bò bị cột, nhưng không thấy dấu vết trẻ con đâu cả. Mọi người đều cho rằng chúng đã chạy thoát hết rồi.

Khi hai vợ chồng A Bang hay tin trở về, họ hoảng loạn tìm con, tìm đến tối mịt vẫn không tìm ra được.

Sáng hôm sau, một người bà con là Luân Bao cũng đến phụ tìm mấy đứa trẻ. Giống như có biết trước, ông vội chạy đến lu nước, giở nắp ra thì kinh ngạc hét to. Vợ chồng A Bang nghe tiếng kêu, tức tốc chạy đến xem thì thấy thi thể của thằng Ô con trai đầu. Luân Bao lại mở tiếp vài cái lu nữa thì lần lượt phát hiện ra xác của Hồng và Bạch. Lúc này, do quá đau lòng và sốc, hai vợ chồng A Bang ngã xuống đất ngất xỉu.

Báo chí và hầu hết các đài truyền hình đều đăng tin thương tâm này. Lúc đó ký giả đài truyền hình phỏng vấn, hỏi Luân Bao vì sao ông biết ba đứa trẻ chết ở trong lu?
Luân Bao đáp: 

- Đêm hôm lửa phát cháy, tôi đang ngủ ở nhà mình, bỗng mơ thấy cảnh mọi người đều chạy đi tìm các cháu nhỏ. Tự dưng có một lão già chưa từng quen biết, râu trắng dài tới ngực đến bảo tôi: - Bầy cá ở trong lu nước! Khi tỉnh dậy, thấy giấc mơ kỳ lạ quá, tôi mới vội vàng chạy sang nhà A Bang xem thử, nhào tới mở mấy nắp lu ra, không ngờ lại thấy thi thể các cháu ở trong đó…

Nghe Luân Bao kể đến đây thì A Bang hét to một tiếng rồi ngất xỉu trên đất. Khi được cấp cứu tỉnh lại, đôi mắt ông như vô hồn, nhìn ngây ngây dại dại về xác ba đứa con rồi lẩm bẩm nói một mình: - Báo ứng! Là báo ứng mà!...Huhuhu…..
Mọi người ai cũng nghĩ do ông thương tâm quá độ nên thần trí mê muội nên chẳng ai dám hỏi gì nữa cả.

Theo tập tục ở nông thôn, hễ nhà nào có chuyện là mọi người đồng tâm hiệp lực xúm lại giúp đỡ, phụ chôn cất các con A Bang.

Vợ chồng A Bang nội trong một ngày mất nhà, mất cả ba đứa con cưng, đành nương náu tạm một nơi ở khác một thời gian. Tài sản tích chứa đều bị làm mồi cho lửa. Hai vợ chồng gặp phải gia biến thảm sầu, họ thấm thía lý vô thường: buồn, vui, ly, hợp ở thế gian nên không còn thấy tha thiết gì nữa, không chút do dự họ đồng xin xuất gia.
Ai cũng hiểu và cảm thông cho họ. Nhưng mọi người cứ thắc mắc hoài vì sao cứ nghe A Bang luôn miệng nói hoài hai chữ: “Báo ứng, báo ứng!”….Ông vốn là một nông dân trung hậu cần lao, nhưng đã làm gì để bị tai họa nặng nề như thế? Thật là khiến cho người ta khó hiểu?

Chỉ có A Vu, em vợ A Bang là biết rõ. A Vu nói:

- Anh Bang sống luôn biết giữ hòa khí, nhiệt tâm giúp đỡ người khác. Anh chỉ có tính là rất thích ăn ngon và tự mình chế biến món “Rau dồn cá” – mà chính A Vu đã nhiều lần phản đối kịch liệt cái món này vì nó quá…tàn nhẫn.

Thái Lan là xứ gạo, cá. Vào mùa xuân, mỗi lần gặp mưa dông là thời kỳ cá đẻ trứng. Mười mấy ngày sau, cá con lớn bằng đầu đũa, A Bang thường dùng vải mùng may thành vợt để lùng bắt đám cá con này. Ít thì mười mấy con, nhiều thì hơn trăm mạng, sau đó anh bỏ cá con vào thùng nước.

Lúc cần nấu, anh chọn các cọng rau to lòng, cắt bỏ các đốt mấu đi thành một ống trống suông. Sau đó đổ nước lạnh vào trong nồi, thả rau và đám cá con đang sống vào, chụm lửa nhỏ riu riu. Do nước lạnh từ từ chuyển nhè nhẹ sang nóng, nên ban đầu đám cá hồn nhiên tung tăng bơi lội. Nước ấm dần rồi tăng nhiệt độ, đám cá hốt hoảng gặp lòng rau rỗng liền chui vào đó để trốn nóng….

Tận mắt chứng kiến cảnh lũ cá con bị giết khá tàn nhẫn chỉ vì một miếng ăn, thương chúng chết thảm thương nên A Vu đã khuyên can, nhưng hai vợ chồng A Bang chẳng mảy may động lòng trắc ẩn. Ngược lại còn cảm thấy tự hào vì mình biết tự sáng tạo ra món ăn cực kỳ đặc biệt và ngon. Mỗi một khúc rau trống đều có một đám cá chui vào, đem ra trộn với gia vị thì ăn ngon cực kỳ, không gì sánh được.

Có lần A Bang đang làm ruộng, anh dùng lưới vớt hết bầy cá con, bỗng nhiên có hai con cá lớn (dường như là cha mẹ của chúng) cũng nhảy theo lên. Có thể do nhìn thấy bầy con chúng bị bắt đem đi nên chúng bi thống cực điểm mà nhảy lên tự sát kháng nghị. A Bang lúc này nhân tính mê muội, cho rằng tự nhiên lại có được thêm của bất ngờ, liền bắt luôn hai con cá đó đem về nhà làm thịt ăn.

Con người vốn quen tạo sát nghiệp ác độc, là do lương tâm bị vùi lấp mê muội. Chỉ khi nào thấy cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái mình chết…mới bắt đầu than khổ, gào lên khóc lóc, trách trời trách đất đau đớn thảm sầu. Chẳng hề nghĩ đến loài vật cũng có tình nghĩa quyến thuộc như mình, cũng đau đớn, oán hận khôn nguôi…
Cổ thi nói:

“Trăm ngàn năm nay trong chén canh
Oán sâu như biện, hận khó bình”

Như nay báo ứng Nhân Quả hiện tiền, xoay chuyển trở lại với A Bang khiến hai vợ chồng anh phải gánh niềm đau chôn con, nếm mùi khổ tự thân chứng kiến cả ba đứa con mình phải chết – nào có khác gì việc anh từng làm đối với bầy cá con kia đâu? Vì vậy mà khiến anh cứ lảm nhảm hoài hai chữ “Báo ứng, báo ứng!”.

Một thi nhân cổ đại đã cảm khái ngăn ngừa nghiệp sát bằng 4 câu thơ sau:
“Ai bảo chúng sinh mạng nhỏ nhoi
Chỉ là xương thịt với da thôi
Xin anh chớ bắt, săn, giết chúng…
Tình cảm chúng đâu có khác người”

Nhân loại hàng ngày đều tự mình làm tăng thêm nghiệp sát oan trái. Khi chúng ta nằm tại bệnh viện hay trên bàn mổ vì một căn bệnh ngặt nghèo, sống chết bên bờ vực. Ngay khi đó chúng ta có thầm tự vấn, có tự hỏi rằng: “Cả đời mình đã từng ăn bao nhiêu con gà, bao nhiêu con vịt, bao nhiêu heo, tôm, cua, bò…..không? Bao nhiêu thi thể của chúng sanh đã nằm trong bụng của chúng ta vậy? Và hôm nay chính là ngày báo ứng đến đó sao?”. Người vào thăm bệnh cũng cần nên phản tỉnh như thế.

Nếu như nhân loại có thể tự vấn lương tâm mình đến cùng thì tự nhiên sẽ phát sinh tâm từ bi, tâm sám hối và nghiệp sát sinh tự nhiên cũng sẽ giảm; cũng như những chứng bệnh oan nghiệt kỳ lạ sẽ dần tiêu tan.

(Trích từ quyển Báo ứng hiện đời – Hạnh Đoan dịch)

Lời bình: Mỗi khi bạn đọc một thông tin một gia đình hay một nhóm người hay một cộng đồng bị tai họa thảm khốc. Bạn đều xót xa và rơi lệ nhưng Nguyên Nhân sâu xa bạn có thể không biết được trong đời trước đời này họ đã từng gieo Nhân gì. Thông thường khi Quả báo đến chúng ta đều khiếp sợ, kinh hãi nhưng không có trí tuệ để thấy được cái Nhân mình đã gieo. 

Học Phật pháp là học cái gì? Học cách tu Nhân Quả, bạn phải biết rằng đời này bạn đang nhận Quả gì là do kiếp trước hoặc ngay kiếp này bạn đã gieo Nhân. Còn hiện tại cái mà bạn đang gieo Nhân thì có thể trong đời này hoặc kiếp sau bạn gặt Quả tùy theo Duyên đến sớm hay muộn. 

Bạn hiểu được Nhân Quả, Tin sâu Nhân Quả thì tự nhiên sẽ không dám nghĩ ác, nói lời ác và làm điều ác mà sẽ chăm lo tích đức tu thiện, gieo các Nhân thiện lành. Quả báo tốt lành đến với bạn không do ai ban thưởng mà là do chính bạn tự gieo trồng mà có đó thôi. “Gieo Nhân gì thì gặt Quả nấy”.

Nam Mô A Di Đà Phật!
(Diệu Âm Lệ Hiếu)