Đạo và đời

[GƯƠNG NHÂN QUẢ]: Gieo Nhân Nào Thì Gặt Quả Ấy



Tần cư sĩ là một nữ rất xinh đẹp, từ nhỏ đã có khiếu mỹ thuật, tuổi còn trẻ đã là thầy dạy cắt uốn tóc nổi danh khắp thành phố. Bà là người lanh lẹ vén khéo, đảm đang.
Sau khi cách mạng giải phóng, bà tự mở một tiệm làm tóc tại nhà. Đến nay đã phát triển thành một thẩm mỹ viện bề thế, quy mô.

Tần cư sĩ rất hiếu thảo với mẹ. Lúc mẫu thân lâm chung, bà quỳ trước giường suốt 8 giờ, không ngừng niệm Phật, làm cả nhà mười mấy người xúm nhau quỳ xuống niệm Phật theo. Đột nhiên, mọi người không hẹn mà đồng thanh la lên: “Ôi chao! Tôi nhìn thấy Bồ-tát Quán Thế Âm rồi!”

Ngay lúc ấy, trong phòng bệnh nhân tràn ngập hương thơm kỳ diệu, khiến người thanh mát cả tạng phủ. Mọi người đồng thấy Quán Thế Âm Bồ-tát giáng lâm phía trên (bên phải giường bệnh), chỉ riêng Tần cư sĩ thấy mẹ mỉm cười, hướng không trung mà đi, hơn nữa còn nghe tiếng nhạc trời vang vang.

Lúc này toàn gia cực kỳ hưng phấn, đồng quay lại nhìn mặt mẫu thân, thấy gương mặt bà đang mỉm cười, đã an lành vãng sinh. Từ đó cả nhà đều tin Phật giáo.

Chính vị Tần cư sĩ thuần thành thiện lương này đã nhiều lần nhờ tôi giúp bà liên hệ xuất gia. Qua trò chuyện tôi mới biết, sở dĩ bà muốn xuất gia là do không có tình cảm với chồng, giữa họ thường xảy ra tranh cãi, ông xã có lúc còn ra tay đánh bà. Những lần như thế, tôi đều khuyên bà không nên trốn tránh hiện thực để xuất gia. Huống chi bà còn đứa con gái chưa thành niên, đang cần mẹ chăm sóc, nuôi dạy.

Cách đây không lâu, một buổi tối bà đột ngột gọi điện thoại tới khóc sướt mướt, kể là do tranh cãi cùng chồng nên bà đã đến nhà em trai cư ngụ ba ngày rồi. Hiện giờ bà chỉ muốn gặp tôi ngay, nếu không bà chẳng thiết sống nữa.

Vừa gặp mặt, Tần cư sĩ đã òa khóc, kể lể:

- “Tôi hiện ngụ trong tòa nhà ba phòng, mới mua hồi nửa năm trước với giá 40 vạn. Tiền này hoàn toàn do tôi kiếm được. Tôi cùng chồng sống chung, khi coi nhà thấy ưng ý, nhưng do bận việc bề bộn nên tôi giao ông xã giữ tiền và lo thủ tục mua nhà. Không bao lâu đã có được chìa khóa nhà mới. Tôi cho rằng nửa đời chịu khổ chịu cực của mình đã được đền bù bằng ngôi nhà ưng ý. Nhưng có ai ngờ, ba ngày trước vào một đêm khuya, chồng tôi về nhà bảo: “- Sáng mai hoặc chậm nhất là ngày mốt, em lo chuẩn bị đủ 20 vạn tiền mặt để giao nộp. Nếu không thì phải ra khỏi nhà”.

Tôi sững người, bèn hỏi: “- Chẳng phải tôi đã đưa đủ 40 vạn cho anh mua nhà rồi sao? Còn đòi 20 vạn nào nữa?”. Ông lớn tiếng quát: “- Tôi chỉ mới đưa người ta 20 vạn, còn 20 vạn tôi đem mua cổ phiếu kiếm lời, nào ngờ bị mất hết. Để gỡ gạc, tôi đã thế chấp ngôi nhà mới này lấy hai mươi vạn, ai dè cũng thua sạch. Bây giờ người ta đòi tiền, không có tiền trả họ thì mình phải ra khỏi nhà….”.

Tôi cảm giác như sấm nổ bên tai, vội trách ông xã chơi cổ phiếu sao không bàn trước với tôi. Nào ngờ ông không những không biết lỗi, mà còn đánh tôi nữa (vừa nói bà vừa chìa cho tôi xem những thương tích trên cánh tay).

Bà sụt sịt kể tiếp: “- Tôi thật khó mà sống qua hôm nay. Tôi cũng từng nghĩ là trước đây mình thiếu nợ ổng, nên đã ráng nhịn nhục cho êm chuyện gần 20 năm nay. Trong nhà mọi việc ăn, mặc, ở…tất cả đều do một tay tôi đi làm kiếm tiền, cung ứng. Lẽ nào vẫn chưa trả đủ nợ cho ổng hay sao? Bây giờ nếu như phải đền tiền thì thẩm mỹ viện của tôi cũng phải đóng cửa. Tôi thật nghĩ không thông! Tôi rất muốn nhờ tôn huynh xin Hòa thượng Diệu Pháp giảng (qua điện thoại) cho tôi nghe, để tôi hiểu rõ về Nhân quả. Như vậy thì tôi mới cam lòng. Dù có chết, tôi cũng phải chết cho minh bạch. Huhuhu….

Dừng một chút cho tâm tư bình tĩnh, sau đó Tần cư sĩ thuật lại cho tôi hiểu rõ đầu đuôi cuộc hôn nhân của bà.

- “Em trai tôi từ lúc giải phóng thì bị điều về quê. Sau đó, người nhà nghĩ cách đem nó về thành phố. Do vậy mà mẹ dẫn tôi đến nhà cục trưởng để cầu giúp. Bà vợ lão cục trưởng vừa nhìn thấy tôi thì tỏ vẻ rất nhiệt tình, hỏi dông dài một hồi, bà liền thuyết phục chồng nên mau thu xếp việc này giúp chúng tôi.

Sau đó, một mình mẹ tôi tới nhà cục trưởng, em trai tôi không bao lâu được chuyển về thành.

Lúc này, mẹ tôi mới sắp xếp cho tôi và con trai cục trưởng gặp nhau. Tất nhiên, tôi không ưa cuộc hôn nhân được mẹ sắp đặt giống như đổi chác này, nhưng do em trai tôi được họ giúp đỡ về lại thành phố, nên tôi phải chấp nhận gặp mặt.

Gặp nhau rồi, hai bên đều không có cảm giác và không nói năng gì. Nhưng thấy ông ta có học thức, đã tốt nghiệp đại học và đang là cán bộ cơ quan, nên cũng không đến nỗi phản cảm. Rồi mẹ tôi nhiều lần thuyết phục, bảo ban nên cuối cùng tôi cũng ưng thuận cuộc hôn nhân do đôi bên an bài. Em trai tôi nhờ vậy mà xin được một công việc như ý.

Nào ai biết, ngay đêm tân hôn, khi tân lang trút y phục ra tôi cực kỳ kinh hãi khi thấy toàn thân ông ta nổi đầy lốm đốm, lục cục lòn hòn, nhìn giống như bị phong cùi hay vảy nến vậy. Định thần nhìn kỹ, tôi chỉ muốn nôn thốc nôn tháo ra thôi. Gã nam nhân là chồng tôi đây: trừ khuôn mặt, cổ và tay ra, khắp mình da bị bệnh, nổi mụt sần sùi và bong lên như vảy cá. Tôi đứng như hóa đá, lòng đầy kinh hoảng, mắt tuôn lệ đầm đìa.

Nghĩ mà xem, từ nay về sau tôi làm thế nào để đối mặt với cuộc sống như vậy? Tôi dám chắc là các cô gái khác mà thấy tân lang kinh khủng như thế này chỉ có nước xô cửa bỏ chạy. Nhưng do tôi không có can đảm đối diện với gương mặt đầy nước mắt của mẹ, lại nghĩ đến tiền đồ của em trai và những lời dèm pha của dư luận, xã hội…nên đành cúi đầu chấp nhận số phận.

Lúc này tôi mới vỡ lẽ và hiểu ra, vì sao mà gia đình “ngài” cục trưởng lại sốt sắng, nhiệt tình vồn vã giúp đỡ chúng tôi nhiều vậy. Vì con trai mình, họ đã hủy hoại cuộc đời tôi.

Sau đó, tôi khuyên chồng nên đi trị bệnh, ông nói: “Hồi trước có trị qua rồi nhưng không kết quả, nên chẳng muốn đi nữa vì không thích bị người ta cười chê rất là mất mặt!”. Tôi bèn mua nhiều thuốc cho ông, nhưng thảy đều không hiệu quả. Tôi lại khuyên ông đi bệnh viện, thế là ông đánh, chửi tôi. Càng khổ hơn nữa là, tôi vô phương đồng sàng với ông. Ông vừa tới gần là tôi đã chán ghét muốn nôn. Có thể điều này đã làm tổn thương lòng tự trọng, tự tôn của ông, nên ông đối với tôi càng vũ phu, thô bạo.

Lòng tôi đầy vết thương, cưới nhau chưa được bao nhiêu ngày, chúng tôi đã phân phòng ngủ riêng. Sau đó, tôi mang thai, sinh một con gái. Nhưng điều khiến người ta khó hiểu là, một người đã thọ qua nền giáo dục đại học, lại sinh ra trong gia đình cán bộ cao cấp, vậy mà ngay cả chút tập quán vệ sinh tối thiểu, anh ta cũng không có. Chén bát ăn bỏ sót đầy, quần áo thì bạ đâu vứt đó, cởi vớ chỗ nào thì quẳng chỗ đó. Mười mấy năm nay vẫn không thay đổi, nếu như không thúc giục thì ngay cả tắm rửa, ông cũng chẳng màng. Đối với những tật xấu này, tôi chỉ cần biểu hiện một chút bất mãn thì sẽ lập tức bị lãnh ngay một trận đòn nhừ tử.

Bên ngoài nhìn vào, ai cũng cho chúng tôi là trai tài, gái sắc, là tiểu gia đình êm ấm, nào có biết đâu tôi đây “bề ngoài cười nụ, bề trong khóc thầm”…

Có lần tôi đi Thanh Đảo làm việc, ngụ tại một khách sạn ven biển. Tối đó, tôi nằm thoải mái trong phòng, lắng nghe tiếng sóng biển ầm ầm vọng vào. Hoàn cảnh lãng mạn như vậy, tôi bất giác nghĩ đến số phận của mình, không kềm được lệ rơi đầm đìa, tuôn ướt gối. Lăn lộn mãi vẫn khó thể chợp mắt, tôi trách trời xanh đối xử quá bất công, đem tôi gả cho một nam nhân vũ phu, tồi tệ, đáng chán, kinh khủng…như vậy. Lẽ nào đây là định số mà con người thường nói?

Bỗng dung, tôi nhớ đến truyền thuyết Bồ-tát Quán Thế Âm ở Nam hải, nghe kể rằng Ngài rất là đại từ đại bi, hay cứu khổ cứu nạn. Lẽ nào ngài lại không cứu giúp cho tôi? Vì sao số tôi khổ như thế này? Ngoài song cửa, tiếng sóng biển ầm ầm gào vang, như thể muốn an ủi, ban cho tôi hi vọng…

Tôi ngồi bật dậy, mặc áo khoác, bước ra khỏi khách sạn, đi đến bờ biển. Trong đêm khuya, mình tôi dạo gót chầm chậm trên bãi cát cô tịch không một bóng người. Tôi ngước nhìn bầu trời lấp lánh ngàn sao, lòng muốn khóc nhưng lệ không chảy nổi. Đột nhiên trong mơ hồ, tôi trông thấy Đức Quán Thế Âm cưỡi trên lung một con cá đứng nơi ven biển (chỗ tiếp giáp với chân trời)…giây phút này, bao oan khuất, tủi nhục, oán hờn và hi vọng…trong tôi đồng loạt trào dâng như suối. Tôi quỳ xuống trên cát, vọng hướng về phía Ngài và bật lên tiếng khóc thật to. Lòng tha thiết mong Ngài cứu vớt, đem tôi ra khỏi chốn trần ai khổ ải này!

Sau đó thì tôi được quen biết tôn huynh, và quy y Phật môn. Có lẽ là trời cao đã nghe tiếng van cầu của tôi nên đáp ứng. Thế nhưng, dù tôi tụng kinh bái Phật nhiều đến mấy, vẫn chưa khiến cuộc hôn nhân thê thảm của mình chuyển biến tốt. Rốt cuộc là kiếp trước tôi thiếu nợ chồng bao nhiêu? Mà làm thế nào cũng trả không xong vậy?

Tôi nghe nói gia đình giám đốc Kim (bài Gương Nhân Quả mới đăng: Luân hồi trả quả) cũng gặp vấn đề rối rắm khó giải quyết, đã nhờ Hòa thượng Diệu Pháp giúp cho rồi. Vậy tôn huynh có thể hỏi giúp dùm tôi chăng? Nếu không, tôi thật sự chẳng thiết sống nữa”…

Nghe Tần cư sĩ khóc kể chuyện mình mà đau lòng. Nhìn bà tinh thần tuyệt vọng, tôi khó mà tin “ách vận sao có thể giáng xuống đầu một phụ nữ thiện lương, hiếu thuận, đảm đang, chu toàn trách nhiệm đến như vậy, càng tìm không ra lời an ủi bà. Tôi không thể từ chối, lại một lần nữa đành phải gấp rút gọi điện thoại cho Sư phụ cầu trợ giúp.

Tôi ấn nút loa vang để mọi người có thể nghe rõ lời sư phụ khai thị. Tiếng sư phụ hiền hòa vang lên:

- “Vào khoảng 100 năm về trước, có người đàn ông dắt theo đứa con gái nhỏ đến một tiểu trấn nọ, mở một quán ăn để sinh nhai. Mẹ bé gái này bị bệnh, đã qua đời. Chủ quán sợ mình tục huyền sẽ khổ cho con thơ nên quyết ở vậy.

Hôm nọ, ông đi ra ngoài, trên đường về gặp thằng bé khoảng 5-6 tuổi bị người bỏ rơi. Lão chủ bèn tính toán: “Số cơm thừa canh cặn mà khách ăn dư, có thể nuôi sống thằng bé này. Nếu bây giờ ông cứu mạng nó, thì khi nó lớn lên nó có thể làm công cho ông (mà ông khỏi phải trả tiền thuê người). Thực là “nhất cử lưỡng tiện”.
Thế là ông quyết định thu nhận thằng bé và làm một cái chuồng gia súc bằng gỗ, mái lợp tranh (gần nhà minh cho thằng bé ở. Hàng ngày, nó giúp ông rửa bát, quét dọn, ăn đồ thừa mà sống qua ngày.

Trong mắt lão chủ và con gái, đứa bé này bất quá chỉ là một con vật biết nói, cho dù nó có nhức đầu, cảm sốt, muỗi cắn, trùng rỉa….chi chi thì họ cũng mặc. Họ để nó tự sinh tự diệt. Nhưng tính ra thằng bé này mạng lớn, nó cứ thế mà trưởng thành.
Thế nhưng, do từ nhỏ đến lớn không ai xem nó là người, ngoài việc sai khiến nó đến tối tăm mặt mũi, không ai thèm trò chuyện với nó. Hễ gặp chuyện gì không vừa ý thì cha con chủ nhân lại trút giận lên mình nó, nếu không đánh thì chửi mắng, cho dù nó rất kiệm tiếng ít lời, ngờ nghệch, ngốc nghếch….Song vẫn bị đối xử rất tồi tệ.

Khi con gái đến tuổi lấy chồng, lão chủ cũng muốn chọn người ở rể, nhưng ngẫm nghĩ ông lại sợ “mình chết rồi gia sản sẽ bị thằng rể chiếm mất”. Vì vậy, dù có rất nhiều người đến cầu thân, nhưng ông cứ trù trừ, lần lựa mãi chẳng muốn gả con cho. Cuối cùng, ông bỗng nảy ra một ý hay, ngoái dòm lại thằng mồ côi ông nuôi bấy lâu: “Nếu như mà gả con cho thằng mồ côi này, thực tế nó chỉ là tên nô lệ thuần phục con gái mình, vậy thì khỏi phải lo gia sản lọt vào tay kẻ ngoại nhân”. Thế là lão chủ thông minh liền an bài cho con gái một cuộc hôn nhân “vạn vô sai thất”.

Con gái mặc dù tuân lệnh cha, nhưng tất nhiên chẳng chịu chung phòng cùng chồng (là tên nô dịch ngu đần dơ bẩn), nên cô đã sống cả đời trong tư tình phóng túng vụng trộm. Còn thằng bé thì suốt kiếp sống cảnh lao dịch, oan khuất, tủi nhục…

Đứa con gái trong câu chuyện vừa rồi chính là Tần nữ sĩ kiếp này, còn tên nô dịch mồ côi chính là chồng bà hiện tại.

Tập quán sống thiếu vệ sinh, không tốt – là do tháng ngày sống trong chuồng thú đời trước dưỡng thành – Da trên mình sần sùi ghẻ chốc (một phần là do ác báo tiền khiên của bản thân và một phần cũng do cảnh sống trường kỳ ở dơ, luôn bị muỗi mòng châm chích tạo thành). Tục ngữ có câu: “Oan có đầu, nợ có chủ”, chẳng phải chẳng báo mà là chưa đến lúc…

Nhân duyên tệ lậu từ tiền kiếp đã chiêu cảm quả báo hôn nhân thống khổ cho Tần cư sĩ trong đời này. Kiếp trước đứa bé đã bị vắt kiệt sức, làm nô dịch cho chủ nhân cả đời mà không được trả công một đồng nào, thì đời này nó đến để đòi nợ. Tần cư sĩ bị đánh mắng, chính là trả báo ngày xưa bà đã từng làm thế đối với nó. Đến như cuộc sống phu thê đời này, cũng là phiên bản của đời trước…

“Muốn biết nhân đời trước, nhìn thọ báo đời này”. Tần cư sĩ đời trước làm ác, đa phần là do từ nhỏ chịu ảnh hưởng của phụ thân.

Đời nay bà hiếu kính mẫu thân, tâm đại thiện hiền lương, ưa nghe Phật pháp, lại biết quy y Phật, ăn chay niệm Phật. Chỉ có Phật pháp mới có thể giúp bà giải quyết, chấm dứt nợ cũ.

Cho nên, xin Tần cư sĩ sau khi đã hiểu rõ nhân duyên đời trước rồi, không nên sinh tâm oán hờn, chán ghét đối với người chồng hiện tại nữa. Mà phải biết nắm bắt cơ hội gặp gỡ trong đời này, thành khẩn sám hối tội nghiệp đời trước. Sống phải thường tự nhìn ra lỗi của mình, ít bàn về lỗi lầm người khác, nhất định sẽ gặp hung hóa cát, biến nạn thành an. Bà phải tụng nhiều “Kinh Địa Tạng” và “Kinh Phổ Môn” hồi hướng cho “tên nô dịch” kiếp trước, thì nhất định chồng Tần cư sĩ sẽ thay đổi”.

Tôi tiếp điện thoại xong, ngoái nhìn Tần cư sĩ đang ngồi yên lặng, “mưa” trên mặt đã dứt hạt, hiện đang “trời quang mây tạnh”.

****

Hơn nửa năm trôi qua, Tần cư sĩ đã gọi điện thoại đến hai lần. Một lần hỏi về các sách kinh Phật giáo, lần khác thì kể bà hiện đang bận công việc bề bộn, khi nào có thời gian rảnh sẽ đến thăm tôi. Nghe giọng nói của bà, chứng tỏ tâm tư đang rất vui vẻ.

Tôi thở ra nhẹ nhõm, thầm cầu mong phu thê nhà bà sớm giải quyết xong túc oán, gia đình hòa thuận, cùng nhau vượt qua cửa ải khó khăn.

(Diệu Âm Lệ Hiếu trích từ quyển Báo ứng hiện đời – Tác giả: Cư sĩ Quả Khanh – Hạnh Đoan dịch)

NHÂN QUẢ BÁO ỨNG TƠ HÀO KHÔNG SAI, MỘT MẢY LÔNG BỤI TRẦN CŨNG KHÔNG THOÁT. NGHIỆP THIỆN ÁC LUÔN THEO TA NHƯ BÓNG THEO HÌNH.

QUẢ BÁO KHÔNG PHẢI KHÔNG ĐẾN MÀ LÀ CHƯA ĐỦ DUYÊN ĐỂ ĐẾN MÀ THÔI. NẾU ĐẾN BẠN SẼ KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI ÁC BÁO.

VẬY VÌ SAO CHÚNG TA KHÔNG NGHĨ ĐẾN ĐIỀU TỐT, NÓI ĐIỀU TỐT VÀ LÀM ĐIỀU TỐT CHỨ?

XIN HÃY THƯỜNG NIỆM A DI ĐÀ PHẬT.