Đạo và đời

[CÂU CHUYỆN PHẬT GIÁO]: Đức Phật Dạy Về Công Đức Và Lợi Ích Việc Phát Nguyện Sau Khi Làm Việc Thiện.


Một hôm, sau khi nghe Phật dạy, Tôn giả Ưu Bà Ly hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, nếu thiện nam và tín nữ thực hành Bát quan trai rồi mà không phát thệ nguyện hồi hướng thì có được công đức lớn chăng?

Phật trả lời:
- Tuy có phước nhưng phước đó không đủ!
Để giải thích cho việc mình đã nói, Đức Phật kể cho chư Tỳ-kheo nghe câu chuyện sau:
"Thời quá khứ, khi đó có vua Bảo Nhạc dùng Chánh pháp trị dân, thống lãnh cảnh giới Diêm-Phù-đề này. Đó là thời có Đức Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai ra đời.

Nhà vua có người con gái tên là Mâu Ni, dung mạo đặc biệt thù thắng. Do đời trước cúng dường chư Phật mà được như vậy. Lúc đó, Bảo Tạng Như Lai nói với các đệ tử rằng:
- Này các Tỳ-kheo! Nên nhớ tọa thiền, chớ có giải đãi!
Cũng cần tìm phương tiện tụng tập kinh giới. Thị giả đa văn của Đức Bảo Tạng Như Lai là Mãn Nguyện mới bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn, với các Tỳ-kheo mà các căn chậm chạp u tối, không tinh tấn đối với việc hành thiền, cũng không thể tụng tập thì làm thế nào?
Đức Bảo Tạng Như Lai trả lời:
- Nếu có Tỳ-kheo, các căn ám độn, không thể thực hành thiền pháp thì nên tu ba pháp của bậc thượng nhân. Đó là tọa thiền, tụng kinh và siêng năng giúp đỡ việc chúng.

Lúc đó, trong chúng, có một Tỳ-kheo tuổi đã lớn, không kham nổi thiền pháp, bèn nghĩ như vầy:
“Ta nay đã già yếu, không kham nổi thiền pháp, nay nên tìm cách làm pháp siêng năng giúp đỡ”.

Nghĩ rồi liền quyết định vào thành, xin dầu thắp đèn về cúng dường Đức Bảo Tạng Như Lai khiến ánh sáng không dứt. Công chúa Mâu Ni thấy Trưởng lão đi khất thực trên đường bèn hỏi chuyện. Biết rõ cớ sự, Mâu Ni vui mừng nói:
- Trưởng lão không cần phải đi khất thực nữa. Con sẽ cung cấp đầy đủ các loại dầu đèn mà Trưởng lão cần dùng.

Tỳ-kheo lớn tuổi nhận sự cúng dường của công chúa. Mỗi sáng đều đến lấy dầu về cúng dường Đức Bảo Tạng Như Lai và phát thệ nguyện rằng:

“Nguyện đem công đức phước nghiệp này hồi hướng về đạo Vô thượng chánh chân. Con nay tuổi đã già, căn tánh lại chậm lụt, không thể thực hành thiền pháp mà Như Lai đã dạy, thành nguyện đem công đức này hồi hướng để đời đời sinh ra không đọa vào đường ác. Tương lai vẫn gặp được Phật như Đức Bảo Tạng hiện nay. Cũng được gặp Thánh chúng như Thánh chúng hiện nay. Được nghe pháp như nghe pháp hiện nay”.

Phật Bảo Tạng biết được tâm niệm đó, mỉm cười, miệng phát ra hào quang năm sắc nói với Tỳ-kheo Trưởng lão:
- Này Tỳ-kheo! Qua vô số kiếp đời vị lai, ông sẽ làm Phật hiệu là Đăng Quang Như Lai.

Trưởng lão nghe xong, tâm ý phấn phát, vui mừng khôn xiết. Mâu Ni thấy dung mạo của Trưởng lão hôm nay khác hẳn mọi ngày, bèn hỏi thăm cớ sự.
Trưởng lão cười nói:
- Tôi đã được Đức Bảo Tạng thọ ký thành Phật, trong tương lai hiệu là Đăng Quang Như Lai.

Mâu Ni nghe xong, cưỡi xe vũ bảo đến gặp Đức Bảo Tạng thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn! Con là thí chủ thường cung cấp dầu cho Trưởng lão về cúng dường Phật. Nay ngài thọ ký cho Trưởng lão mà không thọ ký cho con.
Bảo Tạng Như Lai cười nói:
- Phát tâm thệ nguyện, phước ấy khó lường, huống là dùng tài vật bố thí.

Dù được khen, nhưng công chúa Mâu Ni không thấy Phật thọ ký cho mình, bèn nói:
- Nếu Như Lai không thọ ký cho con, con sẽ tự đoạn mạng sống của mình.
Bảo Tạng Như Lai nói:
- Thân người nữ, cầu làm Chuyển luân không được, cầu làm Đế Thích cũng không được, cầu làm Ma vương cũng không được, cầu làm Phật cũng không được.

Mâu Ni bạch Phật:
- Vậy con không thể thành đạo Vô thượng được sao?
Bảo Tạng Như Lai nói:
- Vẫn được. Nhưng công chúa nên biết, qua vô số a-tăng-kỳ kiếp ở tương lai, có Phật ra đời hiệu là Đăng Quang Như Lai. Phật ấy là thiện tri thức của cô, sẽ thọ ký cho cô.

Mâu Ni thắc mắc:
- Vì người nhận thanh tịnh còn thí chủ uế trược chăng?
Bảo Tạng Như Lai nói:
- Những gì ta nói hôm nay là tâm ý thanh tịnh, phát nguyện vững chắc. Tâm ý thanh tịnh và phát nguyện vững chắc, là hai việc giúp thành tựu quả vị Phật.

Mâu Ni nghe xong cúi đầu lễ sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra.
Cô không được Phật Bảo Tạng thọ ký như Tỳ-kheo Trưởng lão vì cô chỉ mới bố thí cúng dường, tâm chưa phát khởi hồi hướng phước đức đó cho việc tu tập cũng như thành Phật ở tương lai. Trong khi Tỳ-kheo trưởng lão dù căn tánh chậm lụt nhưng lại lập nguyện tu tập và thành Phật rất vững chắc.

Cái quyết định thành Phật là tâm ý thanh tịnh, lìa nhị biệt phân biệt, không phải chỉ nằm ở việc cúng dường bố thí.

Lại nữa, cô cúng dường cho Tỳ-kheo Trưởng lão, không phải cho Đức Bảo Tạng. Nghĩa là cô gieo duyên với Tỳ-kheo Trưởng lão không phải với Đức Bảo Tạng. Thành cô sẽ nhận được sự thọ ký từ Tỳ-kheo Trưởng lão khi ngài thành Phật, không phải từ Đức Bảo Tạng.

Mâu Ni cùng thời với Tỳ-kheo Trưởng lão, cùng gặp được Phật Bảo Tạng, nhưng cô lại gieo duyên với Tỳ-kheo Trưởng lão. Thành phải đợi đến khi Tỳ-kheo Trưởng lão thành Phật mới nhận được sự thọ ký. Việc cúng dường gieo duyên quyết định đường đi nước bước của người tu Phật như thế, nên trong lời phát nguyện nói trên, có phần hồi hướng “không gặp ác tri thức”.

Vì gieo phải ruộng xấu thì mất giống. Con đường tu tập Chánh pháp thêm dài, ngày thành Phật thêm xa. Cho nên, trong vấn đề tu hành, dù là tu phước hay tu đạo thì việc phát nguyện đời đời gặp được thiện tri thức luôn cần thiết, nhất là khi chúng ta chưa đủ trí tuệ nhận được ai là thiện tri thức, ai là ác tri thức. Đó là lý do Đức Bảo Tạng nhấn mạnh đến hai việc mà người tu hành cần có để thành tựu quả Phật, là TÂM Ý THANH TỊNH và PHÁT NGUYỆN VỮNG CHẮC. Thiếu một trong hai thì không thể thành tựu quả Phật.

Rồi Phật kể tiếp:
"Qua vô số a-tăng-kỳ kiếp, Phật Đăng Quang xuất hiện ở đời cùng với đại chúng là mười sáu vạn tám ngàn Tỳ-kheo. Đó là thời mà quốc vương cùng nhân dân trong nước đều kính thờ Phật. Lúc đó trong thành có một Phạm Chí ( Bà-la-môn ) tên là Di Lặc, dung mạo hơn người, thông suốt các kinh tạng, chú thuật, thiên văn, địa lý v.v… thấy Phật Đăng Quang tướng mạo đặc biệt thù thắng, khởi tâm hoan hỷ, dâng năm cành hoa lên Phật và nói:
- Cúi xin Đức Thế Tôn chứng minh cho con. Nay con dâng Như Lai năm cành hoa và đem thân này cúng dường bậc Tôn thánh. Nói lời đó xong, năm cành hoa bỗng biến thành đài báu. Phạm Chí thấy vậy liền vui mừng phát nguyện:
“Xin cho con đời tương lai được làm Phật như Đức Phật Đăng Quang. Đệ tử đồ chúng thảy đều như thế”.

Phật Đăng Quang biết được ý niệm đó, mỉm cười, hào quang năm sắc trong miệng chiếu khắp Tam thiên đại thiên thế giới rồi vào lại nơi đảnh. Đó là dấu hiệu chư Phật thọ ký cho người thành Phật. Khi Phạm Chí thấy điềm lành ấy, biết là Phật đã thọ ký cho mình, liền trải tóc dưới đất mà nói:
- Nếu Phật không thọ ký cho con, con sẽ tự hủy hoại các căn.
Phật liền thọ ký:
- Đời vị lai sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai.

Kể xong, Phật nói với Ưu Ba Ly:
- Phật Đăng Quang chính là Tỳ-kheo trưởng lão lúc trước. Phạm Chí chính là công chúa Mâu Ni cũng là tiền thân của ta. Nay do nhân duyên ấy mà ta nói pháp Bát quan trai này.

Hãy phát nguyện. Không có phát nguyện không có kết quả. Vì sao? Nếu ngày trước công chúa phát nguyện như thế thì liền đó mà thành tựu sở nguyện. Nếu Tỳ-kheo trưởng lão không phát nguyện, rốt cuộc cũng không thành Phật đạo. Phước của thệ nguyện không thể tính kể. Cho nên này Ưu Bà Ly, nên học theo cách như thế.

*** GIỚI BÁT QUAN TRAI ***

"Bát" là tám, "Quan" là cửa, cửa ngăn chặn 8 điều tội lỗi. "Trai" nghĩa là khi đã qua giờ ngọ (12 giờ trưa) không được ăn. Vậy "Bát quan trai giới" là sự giữ gìn cho thân tâm được thanh tịnh trong vòng 24 giờ bằng cách ngăn chặn 8 điều tội lỗi:
1. Không sát sinh;
2. Không trộm cướp;
3. Không dâm dục;
4. Không nói dối;
5. Không uống rượu;
6. Không trang điểm, dầu thơm, múa hát và xem múa hát;
7. Không nằm ngồi giường cao rộng đẹp;
8. Không ăn quá giờ ngọ.

NIỆM PHẬT - NIỆM PHÁP - NIỆM TĂNG

Nam Mô A Di Đà Phật!